Bộ luật tố tụng hình sự là gì ? Lịch sử hình thành bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam ?

Mục lục bài viết

1. Quy định chung của bộ luật tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá VIII, kì họp thứ 3 thông qua ngày 28.6.1988 (gọi tắt là Bộ luật năm 1988) và được sửa đổi bổ sung 3 lần vào năm 1990, 1992, 2000. Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2003 được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 26.11.2003, có hiệu lực ngày 01.7.2004 thay thế Bộ luật tố tụng hình sự 1988.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có kết cấu 8 phần, 37 chương với 346 điều luật. Phần thứ nhất: Những quy định chung, gồm 7 chương (từ chương l đến chương VII); Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy tố, gồm 8 chương (từ chương VIII đến chương XV); Phần thứ ba: Xét xử sơ thẩm, gồm 7 chương (từ chương XVI đến chương XXII); Phần thứ tư: Xét xử phúc thẩm, gồm 2 chương (chương XXIII và chương XXIV); Phần thứ năm: Thi hành bản án và quyết định của tào án,

gồm 5 chương (từ chương XXV đến chương XXIX); Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, gồm 2 chương (chương XXX và chương XXXI); Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt, gồm 4 chương (từ chương XXXII đến chương XXXV), Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế, gồm 2 chương (chương XXXVI và chương XXXVII).

So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã tăng 1 phần, 5 chương và 53 điều.

2. Lịch sử phát triển pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Luật tố tụng hình sự nước ta trải qua quá trình phát triển lâu dài, nhiều sử liệu cho phép khẳng định sự tồn tại của luật tố tụng hình sự trong chế độ phong kiến. Tuy nhiên, luật tố tụng hình sự với tư cách là ngành luật độc lập như hiện nay thì chưa có ở giai đoạn lịch sử đó. Các quy định của luật tố tụng hình sự được ban hành lẫn trong các quy định của luật hình sự, đất đai, hôn nhân và gia đình.

Các triều đại phong kiến nước ta đã sử dụng triệt để luật tố tụng hình sự để bảo vệ lợi ích của mình. Hình thư triều Lý, Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ... đều chứa đựng các quy định về tố tụng như:

“Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng hay có thù oán thì không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ẩy giấu giếm ra làm chứng thì bị ghép vào tội không nói đúng sự thực. Hình quan, ngục quan biết điều đó mà dung túng việc đó đều bị íợỉ”.

Hay khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải xem. xét kĩ, tìm ra sự thực để cho người phạm tội phải nhận tội; không được hỏi quá rộng tìm đến người ngoài để tìm chứng cứ bậy; nếu trái điều này thì xử tội phạt. Ngoài ra, Quốc triều hình luật còn quy định về thủ tục xét xử, thời hạn xét xử và thủ tục thi hành án. Điều 658 Quốc triều hình luật quy định:

>&> Xem thêm:  Khoa học pháp lí là gì ? Khoa học hình sự là gì ? Khái niệm về khoa học pháp lý

“Những tù bị giam, kẻ nào đáng giam mà không giam, đảng gông cùm mà không gông cùm; hay cho bỏ cùm, nếu tù phạm tội biếm thì người coi tù bị phạt 60 trượng; nếu kẻ phạm tội đồ trở lên thì sẽ xử tăng dần một bậc. Những tù phạm không đảng giam mà giam, không đáng gông cùm mà gông cùm thì người coi tù bị phạt 70 trượng”.

Trong Hoàng Việt luật lệ cũng chứa đựng các quy phạm luật tố tụng hình sự. Điều này chứng tỏ triều đình nhà Nguyễn cũng coi trọng hình thức tổ chức kiện tụng, xét xử.

Trong thời kì thuộc địa, pháp luật nước ta chịu sự ảnh hưởng của pháp luật phong kiến và pháp luật tư sản của Pháp. Chính vì lẽ đó đã có sự phân định các ngành luật. Luật tố tụng hình sự đ-

(l).Xem: Điều 714 Quốc triều hĩnh luật. ược pháp điển hoá và được thực hiện cho đến năm 1945. Ở Nam kì, Bộ luật hình sự tố tụng của Pháp được áp dụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người Pháp. Nếu bị can, bị cáo là người Việt Nam thì toà án cũng áp dụng Bộ luật này đồng thời áp dụng bổ sung một số quy định trong các sắc lệnh của Tổng thống Pháp. Tại Bắc kì trong thời kì này áp dụng Bộ luật hình sự tố tụng được ban hành ngày 01/11/1918 và tại Trung kì áp dụng Bộ luật hình sự tố tụng được ban hành vào năm 1935.

2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

Luật tố tụng hình sự Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với những giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám đã có những quy định về tố tụng hình sự. Ví dụ: Chỉ thị ngày 16/4/1945 của Tổng bộ Việt Minh quy định về lề lối làm việc của tiểu ban tư pháp và thẩm quyền xét xử của các tiểu ban này. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, để bảo đảm cho việc xử lí tội phạm được kịp thời, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 quy định việc thành lập toà án quân sự và được bổ sung bằng sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946. Trong đó có quy định: "Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử các tội phạm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Trong khi tiến hành xét xử, các toà án quân sự đã quán triệt chính sách trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục và cải tạo. Ban đầu, việc xét xử những vụ án hình sự thường do Ủy ban nhân dân đảm nhiệm. Sau đó theo sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, các vụ án này do toà án thường xét xử với sự tham gia của phụ thẩm nhân dân. sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 đổi tên toà án thường thành toà án nhân dân V.V..

Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ở miền Bắc việc xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, trong đó có pháp luật tố tụng hình sự được quan tâm. Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng về tự do dân chủ như Luật số 103 SL/L005ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân. Năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và hệ thống các toà án địa phương, Viện công tố trung ương cùng hệ thống viện công tố các cấp. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành. Chế độ bầu cử thẩm phán thay thế chế độ chính phủ bổ nhiệm thẩm phán.

2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1988

Ở miền Nam sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc lệnh số 01 SL/76 ngày 15/3/1976 về tổ chức toà án nhân dân.

Khi Việt Nam thống nhất về mặt nhà nước thì hệ thống toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân trong cả nước được tổ chức, hoạt động theo Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức toà án nhân dân ban hành năm 1960. Năm 1980, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới. Trên cơ sở của Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức toà án nhân dân và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981 thay thế Luật tổ chức toà án nhân dân và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Các văn bản pháp luật trên đã góp phần khắc phục nhũng thiếu sót, hạn chế trong việc giải quyết vụ án hình sự.

>&> Xem thêm:  Tội đánh bạc sẽ bị xử lý như thế nào theo bộ luật hình sự mới 2021 ?

2.4 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay

Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện ưên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, từng bước hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với những kết quả đã đạt được, thực tế cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình tố tụng ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố và xét. xử. Các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Chính vì vậy, việc ban hành BLTTHS là vấn đề mang tính khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Ke thừa và phát triển pháp luật tố tụng hình sự nước ta từ Cách mạng tháng Tám đến nay với tinh thần đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội, ngày 28/6/1988 tại kì họp thứ ba, Quốc hội n- ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII đã thông qua BLTTHS. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989. Để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm xử lí công minh, kịp thời tội phạm và người phạm tội.

Trên tinh thần lấy dân làm gốc, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ’xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lí kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội, BLTTHS năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều (lần thứ nhất - BLTTHS đã được bổ sung thêm ba điều mới là Điều 42a quy định về người bảo vệ quyền lợi của đương sự; Điều 168a quy định về thời hạn hoãn phiên toà và Điều 215a quy định về việc toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn và sửa đổi, bổ sung 35 điều trong tổng số 286 điều luật.) tại kì họp thứ bảy Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII và thông qua vào ngày 30/6/1990. Với những sửa đổi lần này, Bộ luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, đề cao vai trò của các tổ chức xã hội và công dân trong tố tụng hình sự, kết hợp sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa với sức mạnh của quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.

Sau một thời gian thi hành, căn cứ vào thực tiễn tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự và Hiến pháp năm 1992, để khắc phục những vướng mắc và thiếu sót trong quy định của BLTTHS đối với việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX tại kì họp thứ hại đã quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (lần thứ hai) vào ngày 22/12/1992 cho phù hợp với tình hình mới và nguyện vọng của nhân dân, đồng thời phù hợp với Hiến pháp năm 1992 (BLTTHS đã được bổ sung thêm ba điều mới là: Điều 143a quy định về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Điều 143b quy định về đình chi hoặc tạm đình chi vụ án; Điều 160a quỵ định về thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm và sửa đổi bể sung 5 điều luật).

Với sự ra đời của BLHS (được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000), nhiều quy định của BLTTHS hiện hành liên quan không còn phù hợp nữa. Do vậy, ngày 09/6/2000 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS (lần thứ ba - BLTTHS đã được bổ sung thêm hai điều mới là Điệu lOa quy định về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và Điều 234a quy định về thi hành hình phạt trục xuất. Bỏ các điều khoản sau: Các khoản 3, 4 Điều 145 quy định về thẩm quyền xét xử của toà án các cấp; Điều 160a quy định về thành phần xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm; điểm a khoản 1 Điêu 226 quy định vê những bản án và quyết định được thỉ hành. Sửa đổi, bổ sung 21 điều luật và sửa đổi một số điều khoản của BLHS năm 1985 thành điều khoản tương ứng của BLHS năm 1999 đợc viện dẫn trong BLTTHS. Sau ba lần sửa đổi, BLTTHS năm 1988 gồm 293 điều) nhằm thi hành BLHS năm 1999 cũng như phù hợp với tiến trình dân chủ và đổi mới của đất nước. BLTTHS lần này chỉ tập trung vào một số những quy định nhằm thực hiện BLHS năm 1999; giải quyết một số vấn đề bức xúc cần khắc phục trong quá trình tố tụng nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS lần này “dựa trên nguyên tắc không hạn chế quyền của bị can, bị cảo và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời bảo đảm hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mớí”.w

Qua gần 15 năm thi hành với ba lần sửa đổi, bổ sung, BLTTHS năm 1988 là căn cứ pháp lí để cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án tiến hành các hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, góp phần bảo đảm việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có cải cách tư pháp, BLTTHS năm 1988 không còn phù hợp nữa và đã bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã tạo sự thay đổi, chuyển biến lớn về hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nói riêng. Cùng với sự đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp, đổi mới hoạt động của cơ quan điều ưa, viện kiểm sát và toà án ưong tố tụng hình sự là một ưong những nhân tố đột phá quan ưọng thúc đây quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Các nghị quyết của Đảng đã được thể chế hoá thành những quy định pháp luật như Hiến pháp, Luật tổ chức toà án nhân dân, Luật tổ chức toà án quân sự, BLTTHS, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự... để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới. Với tinh thần các nghị quyết của Đảng, BLTTHS năm 2003 được Quốc hội khoá XI tại kì họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đã đáp ứng được yêu cầu về đổi mới hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng tinh giảm bộ máy, thống nhất đầu mối, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. BLTTHS năm 2003 có 8 phần, 37 chương và 346 điều luật, trong đó giữ nguyên 25 điều luật của BLTTHS năm 1988; bổ sung 48 điều luật mới; sửa đổi, bổ sung 267 điều của BLTTHS năm 1988 thành 273 điều, trong đó có 4 điều sửa đổi, bổ sung về tiêu đề; bỏ 1 điều (Điều 257). Như vậy, so với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 quy định thêm 1 phần, 5 chương và 49 điều luật. BLTTHS năm 2003 với những nội dung được sửa đổi, bổ sung đã nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới; nêu cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với công dân, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của công dân đã được hiến pháp và pháp luật quy định; đề cao trách nhiệm và xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, xác định rõ hơn quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng được sửa đổi rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, có tính khả thi hơn, tạo điều kiện cho những người tiến hành và tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình. BLTTHS năm 2003 được bố cục như sau:

- Phần thứ nhất: Những quy định chung, gôm 7 chương (từ Điều 1 đến Điều 99) quy định về nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự; những nguyên tắc cơ bản; cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng; chứng cứ; những biện pháp ngăn chặn; biên bản, thời hạn, án phí.

>&> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo

- Phần thứ hai: Khởi tố,điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy tố gồm 8 chương (từ Điêu 100 đến Điều 169) quy định về khởi tố vụ án hình sự; những quy định chung về điều tra; khởi tố và hỏi cung bị can; lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, đối chất, nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, giám định; tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra; quyết định việc truy tố.

- Phần thứ ba: Xét xử sơ thẩm gồm 7 chương (từ Điều 170 đến Điều 229) quy định về thẩm quyền của toà án các cấp; chuẩn bị xét xử; quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên toà; thủ tục bắt đầu phiên toà; thủ tục xét hỏi tại phiên toà; tranh luận tại phiên toà; nghị án và tuyên án.

- Phần thứ tư: Xét xử phúc thẩm gồm 2 chương (từ Điều 230 đến Điều 254) quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị; thủ tục xét xử phúc thẩm.

- Phần thứ năm: Thi hành bản án và quyết định của toà án gồm 5 chương (từ Điều 255 đến Điều 271) quy định về những quy định chung về thi hành bản án, quyết định của toà án; thi hành hình phạt tử hình; thi hành hình phạt tù và các hình phạt khác; giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt; xoá án tích.

- Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật gồm 2 chương (từ Điều 272 đến Điều 300) quy định về thủ tục giám đốc thẩm; thủ tục tái thẩm.

- Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt gồm 4 chương (từ Điều 301 đến Điều 339) quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên; thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thủ tục rút gọn; khiếu nại, tố cáo Ương tố tụng hình sự.

- Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế gồm 2 chương (từ Điều 340 đến Điều 346) là những quy định chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; dẫn độ, chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án.

Sau 12 năm thi hành, các quy định của BLTTHS đã tạo cơ sở pháp lí cho các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự, góp phần hạn chế oan, sai. Thực tiễn thi hành đã khẳng định vai trò quan trọng của BLTTHS năm 2003 trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các quy định của BLTTHS đã tạo cơ sở pháp lí hữu hiệu cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, hạn chế oan, sai và bỏ lọt tội phạm, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa, bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong tố tụng hình sự. Các vụ án cơ bản được giải quyết đúng trình tự, thủ tục, thời hạn do BLTTHS quy định. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, BLTTHS năm 2003 cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập là: Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng còn thiếu và có những nội dung chưa phù hợp nên ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tố tụng; điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán là những người trực tiếp giải quyết vụ án nhưng chỉ được giao những thẩm quyền rất hạn chế nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và tiến độ giải quyết vụ án; thiếu một số quyền quan trọng bảo đảm cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, gỡ tội; quy định về cãn cứ tạm giam còn định tính và chủ yếu dựa vào sự phân loại tội phạm đang là nguyên nhân dẫn đến việc lạm dụng tạm giam trong thực tiễn; quy định về một số biện pháp cưỡng chế tố tụng còn chưa đầy đủ và cụ thể, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; quy định về chứng cứ còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với diễn biến tình hình tội phạm, chưa thể hiện được yêu cầu tranh tụng đã trở thành nguyên tắc hiến định và chưa theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, chủ yếu vẫn chỉ ghi nhận những nguồn chứng cứ truyền thống, chưa công nhận là chứng cứ đối với các dữ liệu điện tử được thu thập từ mạng internet, từ các thiết bị điện tử; chế định thời hạn tố tụng chưa thật hợp lí, vẫn còn những hoạt động tố tụng chưa bị ràng buộc bởi thời hạn; thời hạn tạm giam còn dài; một số thờỉ hạn quá chặt chẽ nên thiếu tính khả thi; Bộ luật hiện hành mới chỉ quy định thủ tục áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội, chưa quy định thủ tục cho người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng; thiếu các biện pháp bảo vệ người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác; Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm thiếu chặt chẽ đang là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kháng nghị giám đốc thẩm còn nhiều như hiện nay và có nguy cơ trở thành cấp xét xử thứ ba; thủ tục rút gọn, thủ tục đối với người chưa thành niên, khiếu nại, tố cáo, hợp tác quốc tế chưa phù hợp với thực tiễn, chưa bảo đảm tính đặc thù; kĩ thuật trình bày BLTTHS còn có những điểm chưa hợp lí)

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương cải cách tư pháp như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X, XI của Đảng. Các nghị quyết của Đảng nhấn mạnh: Cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp; đồng thời, yêu cầu cải cách nhiều nội dung cụ thể khác của tố tụng hình sự) Với mục tiêu xây dựng BLTTHS khoa học, tiến bộ, có tính khả thi cao, là công cụ pháp lí sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với mọi loại tội phạm, BLTTHS năm 2015 được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo là: thể chế hoá đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lí nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội; tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong yiệc bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hoá các 'trình tự, thủ tục để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm luật định, hạn chế tối đa các quy định chung chung, phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành; việc xây dựng dự án BLTTHS phải được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003, tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra qua thực tiễn; khẳng định tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn; đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lí của mô hình tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với các luật mới được Quốc hội ban hành; nắm bắt các định hướng lớn trong các dự án luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp đang được soạn thảo nhằm tạo sự đồng bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung; nội luật hoá các điều ước quốc tế liên quan đến tố tụng hình sự mà Việt Nam là thành viên nhằm tạo cơ sở pháp lí thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.(1) Với tinh thần trên, ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII, kì họp thứ 10 đã thông qua BLTTHS năm 2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 gồm 510 điều, được bố cục thành 9 phần, 36 chương. So với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 tăng thêm 154 điều. Trong đó, bổ sung 176 điều mới, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều, về bố cục, tách chương quyết định việc truy tố khỏi phần khởi tố, điều ha vụ án hình sự để xây dựng thành một phần độc lập (Phần thứ ba: Truy tố); ghép phần xét xử sơ thẩm và phần xét xử phúc thẩm điều chỉnh trong một phần (Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự). BLTTHS năm 2015 đã tháo gỡ được những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận; khắc phục được những khoảng trống trong BLTTHS năm 2003.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được bố cục như sau:

>&> Xem thêm:  Hạn chế tình trạng oan sai, bức cung, nhục hình trong tố tụng hình sự như thế nào ?

- Phần thứ nhất: Những quy định chung gồm có 8 chương (từ Điều 1 đến Điều 142) quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS; những nguyên tắc cơ bản; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; người tham gia tố tụng; bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; chứng minh và chứng cứ; biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng.

- Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự gồm có 9 chương (từ Điều 143 đến Điều 235) quy định về khởi tố vụ án hình sự; những quy định chung về điều tra vụ án hình sự; khởi tố và hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất, nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết ưên thân thể, thực nghiệm điều tra; giám định và định giá tài sản; biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; tạm đình chỉ điều ưa và kết thúc điều ưa.

- Phần thứ ba: Truy tố gồm có 2 chương (từ Điều 236 đến Điều 249) là những quy định chung và quyết định việc truy tố bị can.

- Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự gồm có 3 chương (từ Điều 250 đến Điều 362) là những quy định chung; xét xử sơ thẩm; xét xử phúc thẩm.

- Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của tòa án gồm có 2 chương (từ Điều 363 đến Điều 369) quy định về bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án; một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù có điều kiện trước thời hạn, xoá án tích.

- Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã cỏ hiệu lực pháp luật gồm có 3 chương (từ Điều 370 đến Điều 412) quy định về thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm; thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

- Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt gồm 7 chương (từ Điều 413 đến Điều 490) quy định về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi; thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân; thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thủ tục rút gọn; xử lí các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự; khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; bảo vệ người tổ giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.

- Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế gồm có 2 chương (từ Điều 491 đến Điều 508) là những quy định chung và một sổ hoạt động hợp tác quốc tế;

- Phần thứ chín: Điều khoản thi hành (Điều 509 và Điều 510).

Mọi vướng mắc pháp lý về tố tụng hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

>&> Xem thêm:  Nhận diện yếu tố Lỗi trong Luật Hình sự Việt Nam

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê (biên tập)

>&> Xem thêm:  Một số thắc mắc của sinh viên về Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự

Let's block ads! (Why?)



source https://luatminhkhue.vn/bo-luat-to-tung-hinh-su-la-gi---tim-hieu-ve-bo-luat-to-tung-hinh-su--.aspx

COMMENTS

Name

ALTCOIN,1,Biệt Thự,1,Bitcoin,9,BlockChain,3,Các Loại Đầu Tư Tiền Ảo,1,Cafe Thư Giãn,34,Chứng Khoán,22,Cộng Đồng Môi Giới,43,Doanh Nghiệp,50,Doanh Nhân,33,Dự Án,77,Ethereum,12,Gallery,20,ICO,1,Kiến Thức,70,Kinh Tế-Tài Chính,126,Lời Khuyên Đầu Tư,38,Marketing,4,Nhà Đẹp,678,Nhận Định,13,Phong Thủy,20,Quảng Cáo,65,Sàn Giao Dịch Tiền Ảo,12,Tiền Ảo,261,Tin BĐS,4599,Tin Tức,426,Trẻ Nhỏ,2,Tư Vấn Luật,1160,Tư Vấn Sức Khỏe - Y Tế,4142,Văn Hóa - Thiền,17,Văn Phòng-ShopHouse,4,Ví,3,Videos,19,VietNam News,2,Xu Hướng,1,
ltr
item
PhoNha: Bộ luật tố tụng hình sự là gì ? Lịch sử hình thành bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam ?
Bộ luật tố tụng hình sự là gì ? Lịch sử hình thành bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam ?
https://cdn.luatminhkhue.vn/LMK/articles/71/356671/bo-luat-to-tung-hinh-su-la-gi---tim-hieu-ve-bo-luat-to-tung-hinh-su---356671.jpeg
PhoNha
https://www.phonha.com/2021/01/bo-luat-to-tung-hinh-su-la-gi-lich-su.html
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/2021/01/bo-luat-to-tung-hinh-su-la-gi-lich-su.html
true
3453152832678417103
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem Toàn Bộ Đọc Tiếp Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS Xem Toàn Bộ Bạn Nên Xem LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy