Pháp luật về kinh doanh vàng bạc, kim loại và đá quý? Điều kiện cấp phép kinh doanh vàng miếng của Tổ chức tín dụng

Điều kiện kinh doanh vàng của tổ chức tín dụng

1. Cơ sở pháp lý

- Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017

- Thông tư 38/2012/TT-NHNN

- Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

- Thông tư 16/2012/TT-NHNN

2. Vàng, bạc, kim loại và đá quý là gì?

Vàng là một thứ kim loại đặc biệt quý hiếm, có nhiều chức năng quan trọng như tài sản dự trữ, thanh toán, trang sức, nguyên liệu chế tạo. Vàng có ảnh hưỏng mạnh đến giá trị đồng tiền và trong một số thời kỳ lịch sử được coi như tiền.

Cùng với vàng, các kim loại quý khác và đá quý cũng được pháp luật có những quy định riêng. Đây cũng là những loại tài sản thuộc nhóm “kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và động sản khác” được liệt kê phải kê khai trong phòng, chống tham nhũng (Điểm b khoản 1 Điều 35 về “Tài sản, thu nhập phải kê khai”, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018)

3. Lịch sử pháp luật về vàng, bạc, kim loại và đá quý

>&gt Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

Từ năm 1946 pháp luật đã quy định về việc xuất khẩu, chuyên chở và buôn bán vàng bạc (Sắc lệnh số 202-SL ngày 15/10/1946 của Chủ tịch nước “Quy định thể lệ xuất khẩu, chuyên chở và buôn bán vàng bạc”).

Từ năm 1955, Ngân hàng Nhà nước đã từng chịu trách nhiệm quản lý việc kinh doanh vàng, bạc, bạch kim, kim cương, ngọc trai, kim loại quý và đá quý khác (Điều 6 Nghị định sô' 631-TTg ngày 13/12/1955 của Thủ tướng Chính phủ về “Quản lý vàng bạc”).

Thời kỳ đó, vàng bạc được giải thích là “gồm tất cả các thứ vàng bạc thỏi, khối, nén, vàng lá, vàng cốm, vàng vụn, tiền vàng, tiền bạc, đồ dùng và đồ trang hoàng bằng vàng bạc (vật kỷ niệm, đồ trang sức, đồ thờ cúng...) các đồ hợp kim có vàng bạc…”. (Điều 1 Nghị định số 631-TTg ngày 13/12/1955 của Thủ tướng Chính phủ về “Quản lý vàng bạc”). Kim khí quý “gồm tất cả các loại vàng bạc (như vàng bạc thoi, khốĩ, nén, vàng lá, vàng cốm, vàng vụn, tiền vàng, tiền bạc), các loại bạch kim; các đồ mỹ nghệ và đồ trang sức bằng vàng bạc, bạch kim; các loại hợp kim có vàng bạc, bạch kim. Đá quý gồm có kim cương và các loại ngọc, xa-phia” (Điều 2 Nghị định số 355-TTg ngày 16/7/1958 về việc “Cấm xuất nhập khẩu bạch kim và các loại đá quý”).

Năm 1958, pháp luật quy định: những người có vàng từ 5 đồng cân (18,75 gam) trở lên, “kể cả vàng ta và vàng tây, phải kê khai số lượng vàng mình có và phải xin giấy chứng nhận cất giữ”1. Đến năm 1978, pháp luật quy định: cá nhân sở hữu từ 1 chỉ (3,75 gam) vàng trở lên phải kê khai và được cấp Giấy chứng nhận.

Năm 1960, pháp luật quy định: “tất cả các thứ kim khí quý, đá quý, mò được ỏ dưối nước, đào được ở dưới đất, nhặt được ở trên mặt đất, trong phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, “đều coi là tài sản của Nhà nước”, trừ trường hợp “nhân dân lao động tìm thấy kim khí quý, đá quý do mình hay gia đình chôn giấu trong thời kỳ kháng chiến, được ủy ban hành chính xã, khu phố, thị trấn, thị xã công nhận; những người đánh mất kim khí quý, đá quý rồi lại tìm thấy, có chứng cớ hợp lệ”.

Năm 1979, pháp luật quy định: “các xí nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang phải giao nộp hết các loại vàng, bạc, bạch kim, kim cương (dưới đây gọi tắt là vàng bạc) cho Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và chỉ được phép giữ lại: các dụng cụ chuyên dùng bằng vàng, bạc cần thiết cho sản xuất và nghiên cứu khoa học kỹ thuật; các loại vàng, bạc được Ngân hàng Nhà nước cấp theo chỉ tiêu được duyệt để dùng vào sản xuất và khoa học kỹ thuật trong năm kế hoạch”. “Các nhà bảo tồn, bảo tàng không được trưng bày các hiện vật lịch sử bằng vàng, bạc mà chỉ được dùng phiên bản”.

Năm 1988, pháp luật quy định: “cho phép các tổ chức có đăng ký kinh doanh dịch vụ kiều hối được tiếp nhận vàng của Việt kiều chuyển về và chi trả cho thân quyến của họ ở trong nước bằng vàng sau khi đã thu cho Nhà nước một khoản phí dịch vụ (bằng vàng hoặc bằng ngoại tệ mạnh)”.

Năm 1993 và 1995, pháp luật cũng đã có một số quy định riêng đối với lĩnh vực đá quý. Năm 1998 trở về trước, Ngân hàng Nhà nước vẫn là cơ quan quản lý việc xuất khẩu, nhập khẩu kim loại quý, đá quý.

Việc bảo quản, vận chuyển vàng, kim khí quý, đá quý và các loại tài sản quý khác trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước vẫn được quản lý như đốỉ với tiền.

Từ năm 1990, các cá nhân và pháp nhân vẫn được phép góp vốn cổ phần hoặc vốn điều lệ bằng vàng.

>&gt Xem thêm:  Cách tính lãi suất mới của ngân hàng áp dụng hiện nay ?

Vàng được coi là ngoại hối trong trường hợp thuộc Dự trữ ngoại hối nhà nưóc, trên tài khoản nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khôi, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đối với vàng ngoại hối thì thuộc trách nhiệm quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý vàng thuộc Dự trữ ngoại hối nhà nước; quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng; quản lý vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú theo quy định của pháp luật. Số lượng và nơi lưu giữ dự trữ ngoại hối nhà nước, kim loại quý hiếm, đá quý và các vật quý hiếm khác của Nhà nước do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý, bảo quản” thuộc bí mật nhà nước độ “Tối mật” trong ngành Ngân hàng (Khoản 4 Điều 2 Quyết định số 15/2003/QĐ-TTg về “Danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật và Tối mật trong ngành Ngân hàng”).

4. Pháp luật về kinh doanh vàng, bạc, đá quý

Từ năm 1955, hoạt động quản lý và kinh doanh vàng, bạc được quy định như sau: (Nghị định số 631-TTg ngày 13/12/1955 của Thủ tướng Chính phủ về “Quản lý vàng bạc”)

Thứ nhất, các cửa hiệu vàng bạc phải chịu sự kiểm soát của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam;

Thứ hai, “mọi người đều có quyền tự do cất giữ vàng bạc, không hạn chế số lượng nhiều hay ít;

Thứ ba, ai muốn mua bán vàng bạc thì phải có giấy phép của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam hay của cơ quan được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ủy nhiệm”;

Thứ tư, các cửa hiệu vàng bạc chỉ được mua và bán vàng bạc đối với những người có giấy phép của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam;

Thứ năm, ai muốn mang vàng bạc từ tỉnh này sang tỉnh khác, không phân biệt số lượng nhiều hay ít (trừ đeo đồ tư trang với số lượng dưới 1 lạng vàng và 8 lạng bạc), đều phải thi hành đúng thủ tục dưới đây: xin giấy phép của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam hay của cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm ở nơi đi. Và trình giấy phép tại Ngân hàng Quốc gia Việt Nam hay cơ quan được Ngân hàng quốc gia Việt Nam ủy nhiệm ỏ nơi đến;

Thứ sáu, cấm xuất nhập khẩu vàng, bạc trừ trường hợp được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cho phép;

Thứ bảy, cấm dùng vàng, bạc thay tiền để mua, bán hay thanh toán món nợ;

>&gt Xem thêm:  Phân tích cơ cấu tổ chức quản lí (Bộ máy quản lí) của tổ chức tín dụng ?

Thứ tám, cấm tàng trữ và lưu hành tất cả các loại tiền hoa (xòe) trừ ở vùng đồng bào thiểu số có sẽ quy định riêng.

Cũng giai đoạn đó, Ngân hàng Nhà nước không chỉ quản lý việc kinh doanh vàng, mà còn quản lý kinh doanh bạc, bạch kim, kim cương, ngọc trai, kim loại quý và đá quý khác.

Năm 1957, Nhà nước ta đã từng “cấm xuất, nhập khẩu bạch kim và các loại đá quý như kim cương, ngọc trai, ngọc thạch, ngọc bích, ngọc lam, ngọc hồng bảo, ngọc sa-phia (saphir), v.v. trừ trường hợp đặc biệt được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cho phép”.

Năm 1958, pháp luật cấm tư nhân buôn bán, đầu cơ, xuất nhập khẩu các loại kim khí quý, đá quý, ngọc trai và dùng để trao đổi, giao dịch, mối lại, cầm cố, thanh toán nợ nần.

Năm 1984, pháp luật quy định một trong những mặt hàng cấm tư nhân lưu thông, kinh doanh là “ngoại tệ, vàng bạc, bạch kim, kim cương, đá quý. Người nào mang những thứ này, trừ đồ trang sức của bản thân mình phải có giấy chứng nhận của Ngân hàng Nhà nước”.

Năm 1989, cho phép một số đơn vị kinh tế quốc doanh, các đơn vị kinh tế tập thể, hộ kinh tế cá thể được kinh doanh vàng bạc (mua bán, gia công sửa chữa, làm mới các tư trang bằng vàng bạc), đá quý. Năm 1990, Tổng công ty Khoáng sản quý, hiếm Việt Nam được thành lập, trong đó có chức năng kinh doanh vàng, kim loại và đá quý, hiếm. Năm 1991, Tổng công ty Vàng bạc, đá quý Việt Nam được thành lập trên cơ sở Công ty Vàng bạc Trung ương và các Công ty Vàng bạc quốc doanh đang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Năm 1990 pháp luật quy định “những địa phương đã huy động và cho vay bằng vàng từ nay không được cho vay nữa”.

Năm 1993, pháp luật quy định: “Nhà nước thừa nhận quyền sỏ hữu hợp pháp vể vàng của mọi tổ chức và cá nhân dưới dạng vàng khốỉ, vàng thỏi, vàng cục, vàng côm, vàng lá, vàng sa khoáng, vàng gốc, vàng tư trang”. “Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước về các hoạt động gia công, chế tác, cầm đồ, mua bán, xuất nhập khẩu vàng”.

Từ năm 1995 trở đi, pháp luật quy định: vàng, đá quý là hoạt động kinh doanh có điều kiện (Điều 1 và 2 Nghị định số 63-CP “Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh vàng”.

Từ năm 2000 đến 2011, pháp luật lại cho phép việc huy động vốn và cho vay bằng vàng (Quyết định sô' 432/2000/QĐ-NHNN).

>&gt Xem thêm:  Phân tích những nguyên tắc hoạt động của tổ chức tín dụng ?

Từ năm 2006 trở đi, đá quý không còn là hàng hóa kinh doanh có điều kiện (Nghị định số 59/2006/NĐ- “Quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện”.)

Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân kinh doanh kim loại quý và đá quý phải áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng trong trường hợp khách hàng có giao dịch bằng tiền mặt mua, bán kim loại quý, đá quý có giá trị từ 300 triệu đồng trỏ lên trong một ngày (Nghị định số 59/2006/NĐ-CP “Quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện” và Khoản 4 Điều 3 về “Nhận biết khách hàng”, Nghị định số’ 116/2013/NĐ-CP “Quy định chi tiết thi hành một sô' điều của Luật Phòng, chống rửa tiền”.

Kinh doanh vàng thuộc loại hàng hóa kinh doanh có điều kiện (Mục thứ 242 “Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”, Phụ lục 4 ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016, 2017, 2018, 2019) bao gồm: hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng và các hoạt động kinh doanh vàng khác, bao gồm cả hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản và hoạt động phái sinh về vàng (Điều 1 về “Phạm vi điều chỉnh”, Nghị định sô' 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về “Quản lý hoạt động kinh doanh vàng”.)

Đối với bên ngoài hệ thông ngân hàng, vẫn được mua bán, cầm cố và vay vốn bằng vàng. Các giao dịch dân sự giữa người dân với nhau mà không phải là kinh doanh thì không bắt buộc phải bằng văn bản và phải có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hay nguồn gốc tài sản.

Việc vay vàng bên ngoài hệ thông ngân hàng, thì vẫn được tính lãi (Điều 463 về “Hợp đồng vay tài sản”, Bộ luật Dân sự năm 2015). “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Trong những năm 1990-2000, pháp luật đã từng quy định, trong trường hợp đối tượng hợp đồng vay là vàng, thì lãi suất chỉ được chấp nhận bằng mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước quy định. Từ năm 2011, Ngân hàng Nhà nước không còn quy định về việc huy động và cho vay vàng của tổ chức tín dụng (Thông tư số 11/2011/TT-NHNN “Quy định về chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng”).

5. Điều kiện kinh doanh vàng miếng của tổ chức tín dụng

Khoản 2 Điều 11 Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng có quy định:

Tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Có vốn điều lệ từ 3.000 (ba nghìn) tỷ đồng trở lên.

b) Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng.

>&gt Xem thêm:  Phân tích cơ chế đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng ?

c) Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 (năm) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Hồ sơ:

Khoản 2 Điều 9 Thông tư 16/2012/TT-NHNN quy định về Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng đối với tổ chức tín dụng bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng (theo mẫu tại Phụ lục 3)

b) Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng.

6. Thủ tục cấp Giấy phép kinh doanh vàng miếng của tổ chức tín dụng

Bước 1: Nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện 01 (một) bộ hồ đến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Quản lý Ngoại hối).

Bước 2: Ngân hàng nhà nước Việt Nam thông báo để Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trên địa bàn kiểm tra về giấy tờ.

Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận đủ hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo để Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trên địa bàn kiểm tra về giấy tờ; pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp địa điểm kinh doanh đối với doanh nghiệp và tình hình trang thiết bị cần thiết để triển khai hoạt động mua, bán vàng miếng tại địa điểm đăng ký làm địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng. Trong thời hạn 07 (bảy) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố báo cáo kết quả kiểm tra cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Vụ Quản lý ngoại hối).

Bước 3: Căn cứ các quy định về điều kiện, hồ sơ, thủ tục, Vụ Quản lý Ngoại hối trình Thống đốc xem xét, quyết định việc cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Bước 4: Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cấp hoặc từ chối cấp (ghi rõ lý do) Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng;

Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước cấp cho tổ chức tín dụng là bộ phận không tách rời của Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng.

>&gt Xem thêm:  Quy định về nhân sự trong bộ máy quản lí của các tổ chức tín dụng ?

Trên đây là phân tích về pháp luật đảm bảo an toàn tiền gửi và phòng ngừa rủi ro tiền gửi.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên soạn)

>&gt Xem thêm:  Tổ chức tín dụng là gì ? Quy định về tổ chức tín dụng

Câu hỏi thường gặp về điều kiện kinh doanh vàng miếng của tổ chức tín dụng

Câu hỏi: Điều kiện để được cấp phép kinh doanh vàng miếng đối với tổ chức tín dụng là gì?

Trả lời:

a) Có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên.

b) Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng.

c) Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Câu hỏi: Thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh vàng?

Trả lời:

Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước cấp cho tổ chức tín dụng là bộ phận không tách rời của Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng.

Câu hỏi: Tổ chức tín dụng được kinh doanh vàng miếng là gì?

Trả lời:

Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh mua, bán vàng miếng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Let's block ads! (Why?)



source https://luatminhkhue.vn/phap-luat-ve-kinh-doanh-vang-bac-kim-loai-va-da-quy-dieu-kien-cap-phep-kinh-doanh-vang-mieng-cua-to-chuc-tin-dung.aspx

COMMENTS

Name

ALTCOIN,1,Biệt Thự,1,Bitcoin,9,BlockChain,3,Các Loại Đầu Tư Tiền Ảo,1,Cafe Thư Giãn,34,Chứng Khoán,22,Cộng Đồng Môi Giới,43,Doanh Nghiệp,50,Doanh Nhân,33,Dự Án,77,Ethereum,12,Gallery,20,ICO,1,Kiến Thức,70,Kinh Tế-Tài Chính,126,Lời Khuyên Đầu Tư,38,Marketing,4,Nhà Đẹp,782,Nhận Định,13,Phong Thủy,20,Quảng Cáo,65,Sàn Giao Dịch Tiền Ảo,12,Tiền Ảo,261,Tin BĐS,5314,Tin Tức,426,Trẻ Nhỏ,2,Tư Vấn Luật,1746,Tư Vấn Sức Khỏe - Y Tế,5120,Văn Hóa - Thiền,17,Văn Phòng-ShopHouse,4,Ví,3,Videos,19,VietNam News,2,Xu Hướng,1,
ltr
item
PhoNha: Pháp luật về kinh doanh vàng bạc, kim loại và đá quý? Điều kiện cấp phép kinh doanh vàng miếng của Tổ chức tín dụng
Pháp luật về kinh doanh vàng bạc, kim loại và đá quý? Điều kiện cấp phép kinh doanh vàng miếng của Tổ chức tín dụng
https://cdn.luatminhkhue.vn/LMK/articles/82/412507/phap-luat-ve-kinh-doanh-vang-bac-kim-loai-va-da-quy-dieu-kien-cap-phep-kinh-doanh-vang-mieng-cua-to-chuc-tin-dung-412507.jpg
PhoNha
https://www.phonha.com/2021/04/phap-luat-ve-kinh-doanh-vang-bac-kim.html
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/2021/04/phap-luat-ve-kinh-doanh-vang-bac-kim.html
true
3453152832678417103
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem Toàn Bộ Đọc Tiếp Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS Xem Toàn Bộ Bạn Nên Xem LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy