Một số vấn đề cần lưu ý nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng

Lưu ý khi vay tín dụng ngân hàng

Thưa luật sư, việc vay tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên dễ dàng và cũng phổ biến hơn. Tuy vậy, vì là liên quan trực tiếp đến tài chính và an toàn hoạt động ngân hàng nên khi cấp tín dụng ngân hàng luôn có những quy định riêng và có lợi cho chính mình. Vậy đối với người tiêu dùng (bên vay) cần lưu ý những gì để bảo đảm quyền lợi khi tham gia vay tín dụng ngân hàng ạ?

Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đoàn Thoa - Ninh Bình

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010

>&gt Xem thêm:  Hạn mức tín dụng là gì ? Phân loại, điều kiện áp dụng hạn mức tín dụng

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi 2017

- Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

2. Tín dụng là gì? Hợp đồng tín dụng là gì?

Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng từng bước hoàn thiện và phát triển thành hình thức cho vay bằng tiền tệ. Trong đó, Bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho Bên vay trong một thời hạn do hai bên thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.

Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng đã chỉ rõ “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó Bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế hiện nay, là công cụ điều hòa vốn nhằm phục vụ cho các mục đích sản xuất kinh doanh cũng như các mục đích khác trong đời sống xã hội.

Tín dụng ngân hàng là giao dịch giữa các tổ chức tín dụng (Bên cho vay) với pháp nhân hoặc cá nhân (Bên vay), trong đó Bên cho vay chuyển giao một hoặc một số tài sản cho Bên vay trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, với điều kiện hoàn trả cả vốn gốc lẫn lãi khi đến hạn thanh toán. Hình thức pháp lý của quan hệ này là hợp đồng tín dụng ngân hàng.

Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015): “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó Bên cho vay giao tài sản cho Bên vay; khi đến hạn trả, Bên vay phải hoàn trả cho Bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Tuy nhiên, chỉ được gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp Bên cho vay là các tổ chức tín dụng, hiện nay chủ yếu là các ngân hàng. Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ chức tín dụng (Bên cho vay) với pháp nhân, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (Bên vay).

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, chưa có một văn bản nào đưa ra định nghĩa, khái niệm hoàn chỉnh về hợp đồng tín dụng ngân hàng, do đó có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của hợp đồng tín dụng. Ngay cả Quyết định số 20/VBHN-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc “Ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” cũng không nêu rõ khái niệm này mà tại Điều 17 về Hợp đồng tín dụng chỉ quy định “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.

>&gt Xem thêm:  Quy định về giao kết hợp đồng tín dụng ? Hiệu lực của hợp đồng tín dụng ?

Do vậy, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao lưu dân sự và thương mại:

– Về chủ thể: Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện luật định, với tư cách là Bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (Bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.

– Về đối tượng: Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền (bao gồm tiền mặt và bút tệ). Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng.

– Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyển tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của Bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, giao làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Bên vay. Do đo, chỉ khi nào Bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho Bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu Bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…).

3. Một số tồn tại khi ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng

3.1. Vấn đề hợp đồng soạn sẵn

Để thủ tục vay vốn được tiến hành một cách nhanh chóng, tiện lợi, hầu hết các ngân hàng Thương mại cổ phần hiện nay đều sử dụng mẫu hợp đồng được soạn sẵn cho tất cả các khách hàng với các điều khoản được quy định như nhau, chỉ thay đổi một số nội dung mang tính chất đặc thù như mức vay, tài sản bảo đảm, thời hạn vay vốn, mục đích vay… Khách hàng chỉ cần điền thông tin, ký vào hợp đồng vay và giấy xác nhận nợ là hoàn tất thủ tục. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây chính là quyền lợi của người tiêu dùng khi vay vốn có được đảm bảo không khi mà họ chỉ cần đặt bút ký vào mẫu hợp đồng do ngân hàng soạn sẵn đó?

Thứ nhất, vấn đề về quyền và nghĩa vụ của hai bên: Khi nghiên cứu kỹ phần nội dung này trong các hợp đồng soạn sẵn, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra có sự bất bình đẳng đáng kể về quyền và nghĩa vụ giữa người vay vốn và ngân hàng. Ví dụ như nội dung về “Nghĩa vụ của Bên vay” được điều chỉnh ở rất nhiều điều khoản trong một hợp đồng vay vốn, bao gồm các điều “Điều kiện, điều khoản riêng”, “Quyền và nghĩa vụ của Bên vay”, “Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại”. Hầu hết các nội dung đều có thiên hướng áp đặt nghĩa vụ của Bên vay, buộc họ phải gánh vác hầu hết các trách nhiệm khi có sự cố xảy ra. Về phía ngân hàng, mọi nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng chỉ được ngắn gọn trong nội dung “Bên cho vay sẽ có quyền và nghĩa vụ Chủ động trích tiền từ Tài Khoản để thu nợ gốc, lãi khi đến hạn và/hoặc thu nợ trước hạn theo quy định và/hoặc thu các nghĩa vụ tài chính khác của Bên vay với Bên cho vay theo quy định của hợp đồng” hoặc “Được quyền điều chinh lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay”, các nội dung về chịu trách nhiệm giải quyết rủi ro hay quy trình điều tra sự cố đều không được đề cập hoặc chỉ quy định một cách mơ hồ, mọi nghĩa vụ của ngân hàng ràng buộc với khách hàng chi được gói gọn trong việc giao đúng số tiền theo cam kết và thu hồi nợ kèm lãi.

Thứ hai, sự thương lượng trong hợp đồng tín dụng: Về bản chất, hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng vay tài sản theo quy định BLDS 2015, với Bên cho vay là tổ chức tín dụng. Do đó, theo đúng tinh thần pháp luật thì một hợp đồng dân sự phải có sự thương lượng và đồng ý của cả hai bên về các điều khoản trong nội dung hợp đồng. Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy, rất ít và hiếm các khách hàng có được “đặc quyền” thương lượng này thì dù không đồng ý với một số nội dung trong bản hợp đồng tín dụng, khách hàng cũng khó mà thương lượng được khi phía ngân hàng cho rằng đó là “quy định chung” đã được soạn sẵn. Ví dụ như một số quy định như Bên vay buộc phải “Mua bảo hiểm trong thời hạn cho vay và hợp đồng bảo hiểm ghi rõ người thụ hưởng đầu tiên là Bên cho vay” hay “Nhằm mục đích và có liên quan đến việc thực hiện Hợp đồng này, Bên vay sẽ chỉ sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng (bao gồm các sản phẩm, dịch vụ gửi tiền, vay vốn, thanh toán và các sản phẩm dịch vụ thu phí/lãi khác) do Ngân hàng cung cấp. Bên vay chỉ có thể lựa chọn ký hoặc chuyển sang một ngân hàng khác với một bản hợp đồng soạn sẵn” cũng khá tương tự như vậy.

Ngoài ra, nội dung một bản hợp đồng vay vốn thường dài từ 10 đến 12 trang với nhiều thuật ngữ mang tính hàn lâm hoặc được giải thích mơ hồ, khiến cho khách hàng gặp nhiều khó khăn trong quá trình đọc hiểu, nhân viên tư vấn lại không giải thích chi tiết nội dung từng điều khoản dẫn đến việc họ không lường hết những rủi ro cho quyền lợi của bản thân khi đặt bút ký vào.

3.2. Vấn đề về lãi suất

Lãi suất là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong một hợp đồng vay vốn, được cả hai bên quan tâm chú trọng. Tuy nhiên, phía người tiêu dùng chưa thật sự nắm bắt và hiểu hết được những vấn đề đang tồn tại trong các quy định về lãi suất của một hợp đồng tín dụng. Khi ký kết một hợp đồng vay vốn, khách hàng sẽ phải chi trả một khoản tiền được tính theo công thức sau:

>&gt Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền đòi nợ mới nhất năm 2021 ? Ủy quyền đòi nợ có hợp pháp ?

Số tiền phải trả = Số tiền nợ gốc + Số tiền lãi vay.

Trong đó: Số tiền lãi vay = Số tiền nợ gốc thực tế nhân (x) lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay thường được khách hàng hiểu đơn giản sẽ được tính bằng lãi suất cơ sở (hay là lãi tiết kiệm) cộng (+) biên độ. Tuy nhiên, Bên vay không tính được rằng trong hợp đồng còn có rất nhiều điều khoản dự phòng nhằm mục đích điều chỉnh được lãi suất cho vay khi cần thiết theo hướng có lợi nhất cho ngân hàng. Công thức chính xác nhất phải là:

Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + Biên độ + Chi phí vốn tăng thêm.

Trong đó, mỗi biến số đều có vấn đề cần phải đánh giá.

– Lãi suất cơ sở: Được xác định bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân kỳ hạn tương ứng (cao nhất) trả lãi cuối kỳ niêm yết tại Bên cho vay vào ngày xác định lãi suất. Nhiều khách hàng cá nhân khi ký kết hợp đồng vay vốn chỉ quan tâm đến lãi suất cơ sở tại thời điểm ký kết và mặc nhiên cho rằng mức %, đó là cố định trong suốt thời gian vay mà không biết chỉ số này có thể thay đổi, tức là áp dụng lãi suất điều chỉnh. Thời hạn điều chỉnh lãi suất phụ thuộc vào quy định của từng ngân hàng, như Vietinbank là 1 tháng/lần hay Tpbank là 3 tháng/lần và mức tăng cũng hoàn toàn không lường trước được mà do ngân hàng tự điều chỉnh theo thực tế hoạt động của mình.

– Biên độ: chỉ số biên độ hiện nay dao động trong khoảng từ 3,5 – 4,5%, đây được đánh giá là chỉ số ít rủi ro với khách hàng nhất trong 3 biến số nêu trên bởi tính chất rõ ràng của nó. Tuy nhiên, trong các hợp đồng tín dụng hiện nay đều có quy định mang tính chất mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong các hợp đồng vay vốn, cụ thể: “Bên cho vay được quyền quyết định điều chỉnh tăng biên độ và chỉ cần thông báo cho Bên vay bất cứ lúc nào khi Bên cho vay đánh giá khả năng trả nợ của Bên vay suy giảm (do hạng tín dụng của Bên vay suy giảm, Bên vay không duy trì được các chỉ số tài chính phù hợp với Bên cho vay…”. Điều này có nghĩa là ngân hàng toàn quyền thay đổi mức điều chỉnh biên độ không cần thông qua thương lượng và thỏa thuận với khách hàng. Bên vay chỉ được biết về sự thay đổi này khi ngân hàng thông báo và không có quyền phản bác bởi họ đã ký vào hợp đồng tín dụng, như là một sự xác nhận đồng ý.

– Chi phí vốn tăng thêm: Là chi phí phát sinh trong điều kiện biến động thị trường khiến lãi suất tiền gửi tiết kiệm niêm yết trả lãi sau không phản ánh đầy đủ chi phí huy động vốn thực tế của Bên cho vay. Trong đó, biến động thị trường được hiểu là khi lãi suất thị trường trong nước và/hoặc sự thay đổi bất thường của nền kinh tế khiến chi phí huy động vốn thực tế cua Bên cho vay vượt quá lãi suất huy động tiết kiệm niêm yết cho kỳ trả lãi tương ứng đối với phương thức xác định lãi suất quy định. Chi phí vốn tăng thêm thường sẽ được các ngân hàng sử dụng như là lời lý giải hợp tình hợp lý nhất khi ngân hàng cần thay đổi về lãi suất vay.

Như vậy, cả ba chỉ số tính lãi suất đều không cố định mà được quy định trong hợp đồng tín dụng theo hướng có lợi cho ngân hàng, cho phép ngân hàng toàn quyền được điều chinh cả 03 chỉ số đó khi cần thiết và không cần thương lượng với khách hàng. Việc người tiêu dùng ký vào bản hợp đồng soạn sẵn mà không đọc kỹ sẽ đưa đến những rủi ro về lãi suất vô cùng lớn mà họ không thể thay đổi hay bác bỏ được.

3.3. Vấn đề về quy định vi phạm hợp đồng

Khi xem xét bản hợp đồng vay vốn ngân hàng, chúng ta có thể nhìn thấy rõ sự mất cân bằng rất lớn trong việc quy định về nghĩa vụ khi xảy ra vi phạm hợp đồng giữa Bên vay và cho vay, đặc biệt là về hành vi thanh lý hợp đồng trước thời hạn.

>&gt Xem thêm:  Thẻ tín dụng là gì ? Thẻ ngân hàng là gì ? Thẻ rút tiền, Thẻ tài sản, Thẻ kết hợp thương hiệu là gì ?

Đối với hành vi này, Bên vay (khách hàng) phải chịu sự ràng buộc của rất nhiều điều khoản trong hợp đồng, ngoài “Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại” thì Bên vay còn phải nộp thêm một khoản phí gọi là phí trả nợ trước hạn nếu muốn thanh lý hợp đồng trước thời gian đã cam kết. Điều này có nghĩa là dù khách hàng có chuẩn bị đầy đủ tiền để trả cả nợ gốc và lãi suất cho ngân hàng trước kỳ hạn thì điều đó cũng không được phép. Họ sẽ phải chọn lựa giữa việc nộp một khoản phí (mức phí theo quy định về phí của ngân hàng trong từng thời kỳ) hoặc tiếp tục ôm khoản nợ và trả lãi cho nó đến đúng kỳ hạn quy định. Không những vậy, Bên vay còn bị thu hồi ưu đãi lãi suất theo quy định hiện hành của Bên cho vay trong từng thời kỳ nếu muốn trả nợ trước hạn.

Tuy nhiên, nếu trong trường hợp Bên cho vay ngân hàng) mới là bên thu hồi khoản vay trước thời hạn thì liệu họ có phải trả bất kỳ khoản phí nào hay bồi thường thiệt hại cho khách hàng hay không?

Dự liệu trước được tình huống này, các hợp đồng tín dụng hiện nay đều có quy định về “Quyền và nghĩa vụ của Bên cho vay” như sau: “Bên cho vay được quyền tuyên bố chấm dứt cho vay và/hoặc thu hồi trước hạn một phần hoặc toàn bộ tiền vay trước hạn khi sự kiện hoặc một chuỗi sự kiện nào xảy ra cho dù có liên quan hay không mà theo đánh giá của Bên cho vay sẽ gây ra thay đổi bất lợi đáng kể đến hoạt động kinh doanh hoặc tình hình tài chính hoặc khả năng trả nợ của Bên vay”. Chúng ta nhìn thấy một sự bất công bằng rõ ràng trong việc quy định về việc thanh lý hợp đồng trước thời hạn của Bên vay và cho vay trong các hợp đồng tín dụng. Việc các ngân hàng tự động thu hồi nợ và chấm dứt cho vay trước thời hạn không những không bị phạt hay bồi thường cho khách hàng mà còn là hành vi hợp pháp thông qua các quy định được ký kết trong hợp đồng. Ngoài ra, việc thu hồi nợ trước hạn này cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ điều kiện hay tình huống nào mà chỉ dựa trên ý chí chủ quan khi ngân hàng đánh giá tình hình vay vốn của cá nhân. Rõ ràng người tiêu dùng đang phải chịu khá nhiều rủi ro trước những quy định soạn sẵn mang tính ưu đãi về phía ngân hàng như vậy, mất đi sự cân bằng trong một giao dịch dân sự bình đẳng

4. Đề xuất nhằm bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng khi ký kết hợp đồng tín dụng

4.1. Vấn đề hợp đồng soạn sẵn

Để có thể giải quyết vấn đề này, cần phải triển khai những giải pháp hiệu quả, tác động về cả phía khách hàng và ngân hàng.

Về phía khách hàng, phương pháp cần thiết và mang lại hiệu quả khả quan nhất trong giai đoạn hiện nay chính là nâng cao nhận thức người tiêu dùng. Quyền được giáo dục tiêu dùng có nghĩa là quyền có được các kiến thức và thông tin cần thiết để có thể là một người tiêu dùng có hiểu biết. Chính sự tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của chính quyền và các tổ chức xã hội sẽ giúp người tiêu dùng nhận thức rõ ràng về quyền lợi của mình, qua đó có thể đưa ra những quyết định sáng suốt trong quá trình sử dụng dịch vụ.

Về phía các ngân hàng, việc yêu cầu điều chỉnh các nội dung trong hợp đồng vay vốn là hết sức cần thiết, hướng đến việc cân bằng và đảm bảo quyền lợi các bên.

Xét tình hình thực tiễn ở Việt Nam, có thể thấy hoạt động của Hội Khoa học kỹ thuật về tiêu chuẩn hóa chất lượng và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam chưa thật sự hiệu quả và phát huy tác dụng, những hành động đấu tranh cương quyết để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng hầu như chưa có mà mới chỉ dừng lại ở mức độ khiếu nại, phản ánh.

4.2. Vấn đề về lãi suất

Hiện nay, vấn đề lãi suất tối đa (lãi suất trần) mà các bên được quyền ký kết với nhau được quy định tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó thì Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng theo quy định của pháp luật về lãi suất cho vay tối đa. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hiện hành không có bất kỳ quy định nào điều chỉnh từng loại chỉ số trong lãi suất vay vốn (bao gồm lãi suất cơ sở, biên độ và chi phí vốn tăng thêm) cũng như điều kiện để các ngân hàng được quyền thay đổi các chỉ số này. Do đó, cần thiết phải ban hành một văn bản quy định chi tiết về mức tăng của từng loại lãi suất cho phù hợp, cũng như giải thích rõ các trường hợp mà ngân hàng được phép áp dụng tăng lãi suất, đặc biệt là đối với trường hợp “Biến động thị trường”.

Ngoài ra, các hợp đồng tín dụng cũng nên xem xét thêm việc sử dụng các từ ngữ dễ hiểu hơn hoặc phần giải thích từ ngữ cần được chi tiết hóa với nhiều ví dụ để tạo thuận lợi cho người vay trong quá trình đọc hiểu. Cần yêu cầu khách hàng ghi rõ “Tôi đã đọc và đồng ý” sau khi ký tên để đảm bảo họ có trách nhiệm trong việc tìm hiểu và nghiên cứu kỹ các nội dung của hợp đồng để tránh những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra.

>&gt Xem thêm:  Em có vay tiền ngân hàng HOME credit không có khả năng trả thì có phải ngồi tù không ?

4.3. Vấn đề về quy định vi phạm hợp đồng

Để giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong quy định về thanh lý hợp đồng trước thời hạn giữa Bên vay và cho vay, cần thiết phải có sự can thiệp bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chúng ta không nên trao quyền quá nhiều cho các tổ chức tín dụng khi để họ tự do thu hồi nợ của khách hàng mà không có bất kỳ sự ràng buộc nào như hiện nay. Cần thiết phải có một văn bản trong đó điều chỉnh rõ các trường hợp ngân hàng được phép chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn, các điều kiện đi kèm để tránh làm thiệt hại đến quyền lợi của khách hàng.

Bên cạnh đó, trong quá trình vay vốn hiện nay, chỉ có hợp đồng bảo đảm là được thực hiện thủ tục công chứng, còn hợp đồng tín dụng chỉ được hai bên ký kết trực tiếp tại ngân hàng. Vậy liệu có nên xem xét đến khả năng quy định hợp đồng tín dụng cần phải được công chứng dưới sự trung gian của một văn phòng công chứng phù hợp? Công chứng viên không những đóng vai trò làm chứng cho sự thống nhất của hai bên trong hợp đồng vay vốn mà còn có một nghĩa vụ quan trọng khác là giải thích các điều khoản trong hợp đồng cho khách hàng. Rõ ràng, nhiều cá nhân gặp khó khăn trong vấn đề đọc hiểu các điều khoản, do đó một công chứng viên đứng ở vị trí trung lập với tầm hiểu biết về pháp luật và kinh tế sẽ là trợ thủ đắc lực giúp khách hàng hiểu chi tiết về bản hợp đồng mình sắp ký cùng những rủi ro có thể đi kèm theo đó.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>&gt Xem thêm:  Thủ tục yêu cầu ngân hàng bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho doanh nghiệp ? Hợp đồng bảo lãnh vay vốn ?

Câu hỏi thường gặp về vay tín dụng ngân hàng

Câu hỏi: Bên vay trong giao dịch vay với ngân hàng có quyền thỏa thuận sửa đổi điều khoản của hợp đồng vay không?

Trả lời:

Trên thực tế là không. Các ngân hàng luôn sử dụng hợp đồng soạn sẵn, nếu bên vay có thắc mắc cũng sẽ nhận được câu trả lời là quy định chung nên không thể thay đổi.

Câu hỏi: Điểm khác biệt về chủ thể trong hợp đồng tín dụng ngân hàng so với hợp đồng vay tài sản là gì?

Trả lời:

Trong giao dịch vay luôn có một bên cho vay là tổ chức tín dụng.

Câu hỏi: Khi vay vốn ngân hàng, người vay sẽ phải chịu lãi suất như thế nào?

Trả lời:

Số tiền lãi vay = Số tiền nợ gốc thực tế nhân (x) lãi suất cho vay

Trong đó: Lãi suất cho vay = Lãi suất cơ sở + Biên độ + Chi phí vốn tăng thêm.

Adblock test (Why?)



source https://luatminhkhue.vn/mot-so-van-de-can-luu-y-nham-bao-ve-quyen-loi-cua-nguoi-tieu-dung-trong-hop-dong-tin-dung-voi-ngan-hang.aspx

COMMENTS

Name

ALTCOIN,1,Biệt Thự,1,Bitcoin,9,BlockChain,3,Các Loại Đầu Tư Tiền Ảo,1,Cafe Thư Giãn,34,Chứng Khoán,22,Cộng Đồng Môi Giới,43,Doanh Nghiệp,50,Doanh Nhân,33,Dự Án,77,Ethereum,12,Gallery,20,ICO,1,Kiến Thức,70,Kinh Tế-Tài Chính,126,Lời Khuyên Đầu Tư,38,Marketing,4,Nhà Đẹp,860,Nhận Định,13,Phong Thủy,20,Quảng Cáo,65,Sàn Giao Dịch Tiền Ảo,12,Tiền Ảo,261,Tin BĐS,5513,Tin Tức,426,Trẻ Nhỏ,2,Tư Vấn Luật,1918,Tư Vấn Sức Khỏe - Y Tế,5527,Văn Hóa - Thiền,17,Văn Phòng-ShopHouse,4,Ví,3,Videos,19,VietNam News,2,Xu Hướng,1,
ltr
item
PhoNha: Một số vấn đề cần lưu ý nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng
Một số vấn đề cần lưu ý nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong hợp đồng tín dụng với ngân hàng
https://cdn.luatminhkhue.vn/LMK/articles/83/419199/mot-so-van-de-can-luu-y-nham-bao-ve-quyen-loi-cua-nguoi-tieu-dung-trong-hop-dong-tin-dung-voi-ngan-hang-419199.jpg
PhoNha
https://www.phonha.com/2021/05/mot-so-van-e-can-luu-y-nham-bao-ve.html
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/2021/05/mot-so-van-e-can-luu-y-nham-bao-ve.html
true
3453152832678417103
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem Toàn Bộ Đọc Tiếp Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS Xem Toàn Bộ Bạn Nên Xem LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy