Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm?

Mục lục bài viết

1. Đồng phạm là gì ?

Khái niệm đồng phạm được quy định tại Khoản 1 Điều 20 Bộ luật hình sự : “ Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Như vậy, thứ nhất, đồng phạm phải có ít nhất từ hai người trở lên, có đủ dấu hiệu về chủ thể chủ thể của tội phạm như về năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự

Thứ hai, đồng phạm là gồm nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm . Như vậy, hành vi phạm tội của mỗi người là cố ý và có sự liên quan, phối hợp chăt chẽ với nhau mà không hề tách rời nhau. N ếu có nhiều người phạm tội nhưng không cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm.

2.Chế định đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự

>> Tham khảo bài viết liên quan: Phân biệt khái niệm đồng phạm với khái niệm che dấu tội phạm, không tố giá tội phạm

Có hai loại chế định như sau :

Đồng phạm đơn giản là trường hợp những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành.

Đồng phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện một tội phạm.

Trong một vụ án về đồng phạm, tùy thuộc vào quy mô và tính chất mà có thể có những người giữ những vai trò khác nhau theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật hình sự gồm: "Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm."

>&gt Xem thêm:  Người giúp sức là gì ? Quy định pháp luật về người giúp sức

Trong đó, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người thực hành là người có vai trò quyết định trong việc thực hiện tội phạm,vì họ là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội như: trực tiếp nhận hối lộ,trực tiếp cầm dao đâm nạn nhân,… Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích của phạm tội không đạt được.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Chỉ trong trường hợp phạm tội c ó tổ chức mới có người tổ chức. Người tổ chức có thể thực hiện những hành vi như: vạch kế hoạch, khởi xướng việc phạm tội. rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm, điều khiển hành động của những người đồng phạm khác,…

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm chỉ được coi là đồng phạm khi hành vi xúi giục đó có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của những người đồng phạm khác, và chỉ sau khi bị xúi giục, người thực hiện phạm tội mới có ý định phạm tội. Hành vi xúi giục phải cụ thể, nhắm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể, nếu chỉ có lời nói có tính chất gợi ý chung chung thì không phải là người xúi giục và không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Người này cũng có vai trò quan trọng trong một vụ án có đồng phạm, giúp việc phạm tội thuận lợi hơn. Người giúp sức có thể giúp bằng lời khuyên, cung cấp phương tiện phạm tội như dao, súng , hứa tiêu thụ tài sản phạm tội,…

Đồng phạm không phải là tình tiết tăng nặng, cũng không phải là tình tiết định khung hình phạt, nhưng trong một số trường hợp, đồng phạm có ý nghĩa rất lớn đến việc xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không. Ngoài ra, tòa án cũng căn cứ vào mức độ, vai trò của mỗi người trong "đồng phạm" để quyết định khung hình phạt đối với từng người.

3.Quy định về quyết định hình phạt đối với đồng phạm tại tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

> Xem thêm: Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm

Thưa luật sư, Quyết định hình phạt đối với đồng phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như thế nào trong Luật hình sự 2015 ?

Người gửi. Hà Lê

Luật sư trả lời:

>&gt Xem thêm:  Xúi giục phạm tội là gì? Quy định về xúi giục phạm tội ?

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi cau hỏi đến Luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn được chúng tôi biên tjp và trả lời bạn như sau :

Khung hình phạt cho tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau căn cứ theo điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định :

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

"Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm.
Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó."
Như vậy, mức án cho mỗi đồng phạm được quyết định dựa trên nhiều yếu tố. Bạn cần xem xét đầy đủ các yếu tố liên quan quy định tại Điều 58 nêu trên để xác định rõ hơn trách nhiệm hình sự với mỗi đồng phạm.

4.Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

>> Xem thêm: Tội chống người thi hành công vụ bị xử phạt như thế nào ?

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm vừa tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt vừa phải tuân theo quy định bổ sung cho trường hợp này, cụ thể:

Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm vừa tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt vừa phải tuân theo quy định bổ sung cho trường hợp này.

Thứ nhất, tuân thủ theo căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45 Bộ luật hình sự:

“Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.”

>&gt Xem thêm:  Che giấu tội phạm là gì ? Khái niệm về che giấu tội phạm

Như vậy, trong trường hợp đồng phạm, khi quyết định hình phạt có các căn cứ sau đây:

– Quy định của Bộ luật hình sự: Tội phạm chung của những người đồng phạm được quy định tại điều luật nào của phần các tội phạm thì quyết định hình phạt được thực hiện trong phạm vi khung chế tài điều luật ấy. Ngoài ra, các quy định khác của Bộ luật hình sự đối với tội phạm chung cũng được áp dụng cho những người đồng phạm.

– Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Trong trường hợp đồng phạm, căn cứ này được hiểu là sự thống nhất giữa tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm chung (được xác định trên cơ sở các tình tiết thuộc mặt khách quan và chủ quan của tội phạm chung) với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của từng người đồng phạm (được xác định trên cơ sở hành vi đã phạm tội của họ).

– Nhân thân người phạm tội: Đặc điểm nhân thân của người đồng phạm nào thì xem xét khi quyết định hình phạt cho người đồng phạm đó, không thể lấy đặc điểm nhân thân của người đồng phạm này để áp đặt cho tất cả những người đồng phạm.

– Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến tội phạm chung thì được xem xét khi quyết định hình phạt cho tất cả người đồng phạm. Những người đồng phạm cùng phải chịu trách nhiệm về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu họ đều biết; Họ cũng cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ của vụ án cũng như được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu họ cùng có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như cùng nhau tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của tội phạm chung…

Thứ hai, tuân thủ theo quy định bổ sung cho trường hợp này: Theo Điều 53 Bộ luật hình sự:

“Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”

Theo đó, cần căn cứ vào các quy định bổ sung, bao gồm:

– Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm.

>&gt Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

Bởi vì tính chất của đồng phạm có ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm chung, còn tính chất và mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm là yếu tố ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mỗi người đồng phạm.

Tính chất tham gia được quyết định bởi vai trò của người đồng phạm, tác dụng của họ đến hoạt động chung của vụ đồng phạm. Thông thường, người tổ chức và người xúi giục có vai trò nguy hiểm hơn cả. Mức độ tham gia chỉ sự đóng góp thực tế của những người đồng phạm vào việc gây ra tội phạm cũng như hậu quả của tội phạm.

– Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Đó là những tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội hoặc các tình tiết khác liên quan đên cá nhân từng người đồng phạm như phạm tội với động cơ đê hèn hay phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra…

5.Bình luận về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

>> Tư vấn mức án phạt tù đối với từng đồng phạm gọi: 1900.6162

Điều luật quy định nội dung có tính nguyên tắc là:

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Từ quy định này cho thấy vấn đề trách nhiệm của những người đồng phạm được giải quyết trên cơ sở một số nguyên tắc sau đây:

>&gt Xem thêm:  Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học là gì ? Cho ví dụ ?

Những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm mà họ đã thực hiện; họ đều bị truy tố theo điều luật về tội phạm đã thực hiện với hình phạt tương ứng quy định trong điều luật cùng với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà họ đều biết. Vì tội phạm do những người đồng phạm cùng thực hiện là một thể thống nhất không thể chia cắt được; hậu quả nguy hiểm gây ra cho xã hội là kết quả hành động chung về toàn bộ tội phạm mà họ đã thực hiện.

Mỗi người đồng phạm, trên cơ sở hành vi cụ thể của mình phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm, chứ không phải chỉ có người thực hành giữ vai trò chính, còn những người đồng phạm khác giữ vai trò tòng phạm. Do đó:

+ Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành. Vì hành vi đó vượt quá giới hạn thoả thuận giữa các người đồng phạm và không thuộc ý định chung của họ.

Ví dụ: Trong một số vụ đồng phạm trộm cắp tài sản, người thực hành tội phạm còn hiếp dâm người chủ nhà nên người đó còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.

Những người đồng phạm có thể phải chịu trách nhiệm về những tội khác nhau vì họ không cùng mục đích phạm tội hoặc thuộc cấu thành tội phạm khác nhau (tăng nặng, giảm nhẹ) của một tội phạm.

Ví dụ: Trong một vụ đồng phạm giết người mà nạn nhân là một công chức Nhà nước, tuỳ theo động cơ, mục đích của họ mà mỗi người đồng phạm bị trách nhiệm về tội phạm hoặc cấu thành tội phạm khác nhau: Người phạm tội nhằm chống lại hoặc làm suy yếu chính quyền bị truy tố về tội khủng bố; người phạm tội do động cơ đê hèn bị truy tố về tội giết người.

+ Hành vi của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức tuy chưa dẫn đến việc thực hiện tội phạm (Ví dụ: Người thực hành bị phát hiện và bị bắt khi phạm tội chưa đạt), vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự (về tội phạm họ định thực hiện), ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt tuỳ theo giai đoạn phạm tội của người thực hành.

+ Việc miễn trách nhiệm hình sự cho người thực hành (Ví dụ: Do chuẩn bị phạm tội xong lại từ bỏ ý định phạm tội) không lọai trừ trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm đã tác động để người thực hành thực hiện tội phạm.

+ Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của một trong những người đồng phạm (kể cả người thực hành) không loại trừ trách nhiệm của những người đồng phạm khác; những người này không tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hoặc chấm dứt không tự nguyện và dứt khoát, vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự trên cơ sở hành vi của mình.

– Trách nhiệm của từng người đồng phạm được cá thể hoá căn cứ vào nguyên tắc quyết định hình phạt, vào tính chất và mức độ tham gia của mỗi người vào việc thực hiện tội phạm và vào những tình tiết làm tăng, giảm hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự riêng biệt cho từng người đồng phạm.

>&gt Xem thêm:  Phân biệt phòng ngừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm, kiểm soát tội phạm ?

Tính chất tham gia của mỗi người được xem xét căn cứ vào vai trò của họ trong vụ đồng phạm (người thực hành, người tổ chức, người xúi giục hoặc là người giúp sức). Thông thường, người tổ chức, người xúi giục gây nguy hiểm cho xã hội không ít hơn người thực hành và đôi khi còn nhiều hơn. Còn người giúp sức thông thường thì nguy hiểm cho xã hội ít hơn, nhưng cũng có trường hợp người giúp sức gây nguy hiểm cho xã hội nhiều hơn người thực hành hoặc người xúi giục. Mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm được xem xét căn cứ vào tính chất và hành vi phạm tội của mỗi người như: thủ đoạn, phương pháp phạm tội có nguy hiểm xảo quyệt không và mức độ đến đâu, thái độ tâm lý đối với việc thực hiện tội phạm có quyết tâm không, mức độ quyết tâm, động cơ, mục đích phạm tội có mức độ nguy hiểm đến đâu.

Nếu người thực hành có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thì mới bị coi là đồng phạm. Ngược lại, nếu người thực hành không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sự như là người thực hành.

Ví dụ: Nếu người xúi giục trẻ em dưới mười hai tuổi đi trộm cắp, thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp. Đối với tội phạm có chủ thể đặc biệt (Ví dụ: Người có chức vụ, quyền hạn trong tội tham ô), người thực hành phải là chủ thể đặc biệt, những người không có đặc điểm ấy vẫn có thể là đồng phạm.

Trên đây là những tư vấn của công ty chúng tôi, mọi thắc mắc vui lòng liên hệ luật sư/ chuyên viên tư vấn trực tiếp qua tổng đài 24/7: 1900.6162 để nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>&gt Xem thêm:  Tìm hiểu về các học thuyết sinh học về tội phạm học ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Trả lời:

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

2. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Câu hỏi: Người có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hình sự

Trả lời:

1. Kiểm sát viên.

2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.

3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.

Câu hỏi: Thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong tố tụng hình sự

Trả lời:

1. Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra do Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định.

Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì việc điều tra vụ án do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.

Adblock test (Why?)



source https://luatminhkhue.vn/quyet-dinh-hinh-phat-trong-truong-hop-dong-pham.aspx

COMMENTS

Name

ALTCOIN,1,Biệt Thự,1,Bitcoin,9,BlockChain,3,Các Loại Đầu Tư Tiền Ảo,1,Cafe Thư Giãn,34,Chứng Khoán,22,Cộng Đồng Môi Giới,43,Doanh Nghiệp,50,Doanh Nhân,33,Dự Án,77,Ethereum,12,Gallery,20,ICO,1,Kiến Thức,70,Kinh Tế-Tài Chính,126,Lời Khuyên Đầu Tư,38,Marketing,4,Nhà Đẹp,869,Nhận Định,13,Phong Thủy,20,Quảng Cáo,65,Sàn Giao Dịch Tiền Ảo,12,Tiền Ảo,261,Tin BĐS,5527,Tin Tức,426,Trẻ Nhỏ,2,Tư Vấn Luật,1918,Tư Vấn Sức Khỏe - Y Tế,5575,Văn Hóa - Thiền,17,Văn Phòng-ShopHouse,4,Ví,3,Videos,19,VietNam News,2,Xu Hướng,1,
ltr
item
PhoNha: Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm?
Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm?
https://cdn.luatminhkhue.vn/LMK/articles/83/419205/quyet-dinh-hinh-phat-trong-truong-hop-dong-pham-419205.jpg
PhoNha
https://www.phonha.com/2021/05/quyet-inh-hinh-phat-trong-truong-hop.html
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/2021/05/quyet-inh-hinh-phat-trong-truong-hop.html
true
3453152832678417103
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem Toàn Bộ Đọc Tiếp Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS Xem Toàn Bộ Bạn Nên Xem LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy