Suy đoán vô tội ở Canada: tiếp cận so sánh với Việt Nam

Suy đoán vô tội ở Canada

Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Sự tồn tại các phiên bản khác nhau về suy đoán vô tội

Nhiều, nhưng không phải tất cả, các quốc gia coi suy đoán vô tội là một quyền hiến định. Một số tác giả cho rằng mặc dù suy đoán vô tội được chấp nhận rộng rãi và bắt nguồn mạnh mẽ trong các nền văn hóa pháp lý hiện đại, nhưng tồn tại các phiên bản khác nhau về suy đoán vô tội, do đó, người ta quan tâm đến nó trong luật hình sự ở cả Việt Nam và Canada. Ferry de Jong và Leonie van Lent cũng lưu ý rằng, "Suy đoán vô tội luôn được thảo luận nhiều, nhưng trong thập kỷ qua, chủ đề này đã rạo ra sự phát triển đáng kể trong hoạt động nghiên cứu"; họ nói thêm rằng, "nhiều tác giả khác luôn tìm kiếm nghĩa quy phạm và các hàm ý của nguyên tắc này".

2. Suy đoán vô tội ở Canada

2.1. Quan điểm của Canada về Suy đoán vô tội

Ở Canada, phán quyết của Tòa án trong vụ R. V. Oakes là dấu hiệu cho thấy vị trí và nội dung của suy đoán vô tội:

Suy đoán vô tội bảo vệ quyền tự do cơ bản và phẩm giá con người của bất kỳ ai và tất cả những người bị nhà nước buộc tội về một hành vi hình sự. Một cá nhân bị cáo buộc về một tội hình sự phải đối mặt vói các hậu quả xã hội và cá nhân nghiêm trọng, bao gồm mất tự do thể chất, chịu đựng sự kỳ thị xã hội và sự tẩy chay từ cộng đồng, cũng như các tác hại xã hội, tâm lý và kinh tế khác. Xét mức độ nghiệm trọng của những hậu quả này, suy đoán vô tội là rất quan trọng. Nó đảm bảo rằng, cho đến khi nhà nước chứng minh bị cáo có tội mà không còn bất cứ sự nghi ngờ nào (beyone a reasonable doubt), người đó là vô tội. Đây là điều cần thiết trong một xã hội cam kết công bằng và công lý xã hội. Suy đoán vô tội xác nhận niềm tin của chúng ta vào loài người; nó phản ánh niềm tin của chúng ta rằng các cá nhân là những thành viên đứng đắn và tuân thủ pháp luật của cộng đồng cho đến khi được chứng minh ngược lại.

Tòa án cũng tuyên bố rằng, "quyền tự do và suy đoán vô tội là các nguyên lý cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự của chúng ta, và suy đoán vô tội là "nguyên tắc tổ chức quan trọng nhất trong luật hình sự".

Rất lâu trước khi ban hành Hiến chương ở Canada, suy đoán vô tội đã được khái lược bởi Viscount Sankey trong phán quyết của Thượng Viện Anh trong vụ án Woolmington V. Director of Public Prosecutions: "Xuyên suốt trong Luật Hình sự Anh, sợi chỉ vàng luôn được nhìn nhận, đó là nghĩa vụ của công tố trong việc chứng minh sự có tội của tù nhân". Đoạn này được nhắc lại bởi Tòa án năm 1938 trong vụ án R V Manchuk. Hãy nhớ lại rằng Tòa án chỉ trở thành tòa phúc thẩm cuối cùng vào năm 1949. Trước đó, ủy ban Tư pháp của Hội đồng Cơ mật ở Vương quốc Anh là tòa phúc thẩm cuối cùng của Canada. Pamela R. Ferguson lưu ý rằng, "Mặc dù Woolmington thường được coi là một sự chứng thực vang dội của suy đoán vô tội, nhưng nó thực sự tập trung nhiều hơn vào trách nhiệm chứng minh, và cả hai thường được coi là đồng nghĩa”. Thật thú vị, đây cũng là cách hiểu về suy đoán vô tội ở Canada, nơi mà trong vụ án R. V. Starr, Tòa án tuyên bố, "Chứng minh tội của bị cáo mà không còn bất cứ sự nghi ngờ gì nữa có liên quan chặt chẽ đến suy đoán vô tội." "Cách hiệu quả nhất để xác định tiêu chuẩn nghi ngờ hợp lý (the reasonable doubt) cho bồi thẩm đoàn là giải thích rằng nó rất gần với sự chắc chắn tuyệt đối". Thực tế mà nói, Tòa án cũng đã thiết lập một bài kiểm tra pháp lý (thường được gọi là kiểm tra w. (D.)) áp dụng cho tất cả các nhân chứng và cho toàn bộ bằng chứng bào chữa:

Đầu tiên, nếu bạn tin vào bằng chứng bào chữa của bị cáo, rõ ràng, bạn phải tha bổng.

>&gt Xem thêm:  Quy định mới về công bố các tài liệu, chứng cứ của vụ án dân sự ?

Thứ hai, nếu bạn không tin lời khai của bị cáo nhưng bạn có nghi ngờ hợp lý về nó, bạn phải tha bổng.

Thứ ba, ngay cả khi bạn không có nghi ngờ hợp lý về bằng chứng của bị cáo, bạn phải tự hỏi liệu, dựa trên cơ sở bằng chứng mà bạn chấp nhận, bạn có bị thuyết phục mà không còn bất cứ sự nghi ngờ gì nữa bởi bởi bằng chứng phạm tội của bị cáo hay không.

2.2. Sự khác biệt giữa các quan niệm của người Pháp và Anh - Mỹ về suy đoán vô tội

Ở Canada, suy đoán vô tội được quy định trong phần 11 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada được ban hành vào năm 1982 và được ghi trong Hiến pháp Canada. Suy đoán vô tội cũng được bảo vệ bởi các phần 7 - như là một nguyên tắc của công lý cơ bản - và phần 11 (e) - trong bối cảnh của một phiên điều trần tại ngoại.

Francois Quintard-Morenas đã quan sát như sau liên quan đến sự khác biệt giữa các quan niệm của người Pháp và Anh-Mỹ về suy đoán vô tội:

Các quan niệm về nguyên tắc suy đoán vô tội của Pháp và Anh-Mỹ cho thấy sự khác biệt nổi bật giữa hai hệ thống. Trong khi các sinh viên luật ở Pháp học rất chi tiết rằng suy đoán vô tội có hai chức năng riêng biệt, đó là quy tắc về bằng chứng và sự bảo hộ chống lại hình phạt trước khi bị kết án, thì các sinh viên xuyên qua Đại Tây Dương được dạy ngắn gọn rằng suy đoán vô tội được coi hơn một chút so với một học thuyết về chứng cứ mà không áp dụng trước xét xử.

Mặc dù tuyên bố này có thể vẫn đúng ở Pháp và Hoa Kỳ, dường như nó không áp dụng cho luật hình sự của Canada, nơi suy đoán vô tội "đồng hành với người bị buộc tội... cho mỗi giai đoạn tố tụng"; như thế, nó áp dụng trước khi xét xử. Điều này không có nghĩa là việc xác định có tội hoặc sự vô tội của một cá nhân sẽ được quyết định trước khi xét xử, nhưng suy đoán vô tội sẽ là một yếu tố quan trọng để tòa án xem xét trong quá trình ra quyết định. Chẳng hạn, "quyền không được bị từ chối bảo lãnh hợp lý mà không có lý do chính đáng... tạo sự ảnh hưởng của suy đoán vô tội trong giai đoạn tiền xét xử của quá trình xét xử hình sự".

Liên quan đến các cấu thành của suy đoán vô tội ở Canada, Tòa án cũng tuyên bố trong Vụ án Re B.c. Motor Vehicle Act rằng suy đoán vô tội gồm hai yếu tố thiết yếu, về nội dung và thủ tục. Suy đoán vô tội có thể được xem là một nguyên tắc nội dung của công lý cơ bản nhưng rõ ràng nó có cả khía cạnh nội dung và thủ tục. Thật vậy, bất kỳ suy đoán nào về sự kiện cũng có thể bị bác bỏ được xem như khía cạnh thủ tục, vì chủ yếu đó là sự phân bổ nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, cũng có một lợi ích về nội dung được bảo vệ bởi suy đoán vô tội, cụ thể là quyền của một bị cáo được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh ngược lại bởi Nhà nước.

Do đó, suy đoán vô tội được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt quy trình tố tụng hình sự. Ví dụ, nó được áp dụng trong bối cảnh đánh giá tính xác thực của lời khai của một bị cáo khi họ làm chứng: "bất kỳ giả định nào rằng một bị cáo sẽ nói dối để được tha bổng đều vi phạm sự suy đoán vô tội". Nó cũng có thể áp dụng trong bối cảnh quyền im lặng của bị cáo. Ví dụ, Tòa án yêu cầu, "trong khi người bị giam giữ có quyền im lặng khi bị bắt hoặc giam giữ, liệu sự im lặng này sau đó có thể được sử dụng để chống lại bị cáo tại phiên tòa như là bằng chứng phạm tội của bị cáo không?" Câu trả lời là, "Suy đoán vô tội... cung cấp thêm sự hỗ trợ cho kết luận rằng sự im lặng của bị cáo tại phiên tòa không thể được đặt lên thang đo bằng chứng chống lại bị cáo". Trên thực tế, "một bị cáo hoàn toàn có quyền giữ im lặng, không bào chữa và đặt nghĩa vụ cho Nhà nước trong việc chứng minh tội phạm mà không có bất cứ sự nghi ngờ gì". Sự suy đoán này cũng được áp dụng trong các cuộc kiểm tra chéo trong đó Tòa án tuyên bố rằng, "đây là một nguyên tắc lâu đời và được thiết lập chặt chẽ có liên quan gần gũi với suy đoán vô tội".

3. Suy đoán vô tội ở Việt Nam

Năm 2014, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao viết:

>&gt Xem thêm:  Chứng cứ là gì ? Phân tích thuộc tính của chứng cứ trong vụ việc dân sự

Suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản của nền tư pháp dân chủ. Hiến pháp mới đã thể hiện nội dung nguyên tắc này tại khoản 1 Điều 31 như sau: "Người bị buộc tội đươc coi là không có tội cho dến khi đươc chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật (khoản 1 Điều 31). Quy đinh này đươc coi là môt "dấu son " phản ánh sư phát triển của khoa hoc pháp lý và bước tiến của nền tư pháp Viêt Nam...

Nguyên tắc này đã sửa đổi quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (2003) rằng "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" (Điều 9). Phù hợp với quy định mới, nguyên tắc suy đoán vô tội phải được quy định đầy đủ làm cơ sở cho việc thiết kế các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, cũng như các thủ tục tố tụng như sau: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trách nhiêm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tôi. Mọi nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội nếu không thể chứng minh bằng các biện pháp do Bô luật này quy định thì phải suy đoán theo hướng có lợi cho họ".

Đây là sự thật vào năm 2014, đây vẫn là sự thật vào năm 2020. Tuy nhiên, Tim Lindsey và Pip Nicholson đã viết vào năm 2008, "trong luật hình sự Việt Nam, không có suy đoán vô tội chỉ có suy đoán "không có tội" (a presumption of 'not guilty) theo cách đọc hiểu nghĩa đen của các quy định pháp luật liên quan".

Có phải sự suy đoán "không có tội" này đã được sửa đổi bởi Hiến pháp hiện hành năm 2013 để thay vào đó quy định trực tiếp khái niệm suy đoán vô tội hay không? Câu trả lời là chưa. Trong tiếng Việt, khoản 1, Điều 31 của Hiến pháp quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Trong tiếng Anh, quy định này được dịch ra là: "The accused shall be presumed not guilty until proven in the legal order and with the sentence of the court legally effective". Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định về suy đoán vô tội? Vì thế, để thực thi Hiến pháp và đảm bảo sự phù hợp của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với Hiến pháp, Điều 13 của Bộ luật mới quy định từ ngữ tương tự, nhưng với sự khác biệt nhỏ, sự bổ sung của tiêu đề "Suy đoán vô tội". Thuật ngữ suy đoán vô tội đã được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh "presumption of innocence" trong các tài liệu khoa học hay cụm từ "right to be presumed innocent" trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, điều gì đó dường như đã bị mất đi khi dịch thuật. Cả Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự không dùng giả định vô tội (presumption of innocence). Thay vào đó, các văn bản này sử dụng suy đoàn vô tội cùng với không có tội (suy đoán 'không có tội')

Do đó, việc chỉ ra sự khác biệt ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt về suy đoán vô tội trong Hiến pháp Việt Nam 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam đi xa hơn là một bài tập ngôn ngữ thuần túy bởi vì "trong thực tiễn, nguyên tắc "không có tội" mang ít trọng lượng". Thật vậy, suy đoán không có tội thường được nhìn nhận đơn giản là yêu cầu các thẩm phán (và những người khác tham gia tố tụng, chẳng hạn như viện kiểm sát hoặc cơ quan điều tra) không đối xử một cách chính thức bị cáo là tội phạm cho đến khi tòa án quyết định người đó có tội. Những người bị giam giữ hoặc những người bị buộc tội, trên thực tế, thường bị đối xử như thể họ đã bị kết tội. Sự tồn tại của thực trạng này cũng có thể được giải thích bởi thực tế là "trong pháp luật Việt Nam, các quy tắc bảo vệ quyền của nghi phạm không phải lúc nào cũng có hiệu lực vì chúng bị vô hiệu hóa bởi các quy tắc mâu thuẫn khác hoặc bởi vì cơ quan điều tra, công tố hoặc tòa án không áp dụng chúng. Khi có mâu thuẫn giữa hai văn bản, văn bản có lợi ít hơn với bị cáo được áp dụng", trong khi điều đó hoàn toàn trái ngược ở Canada: "nếu một điều khoản hình phạt không rõ ràng, việc giải thích có lợi nhiều hơn cho bị cáo được áp dụng".

Thực tế của văn hóa pháp lý ở Việt Nam được mô tả ở trên cho thấy tầm quan trọng của văn hóa pháp lý khi một nguyên tắc pháp luật được áp dụng. Cách đây không lâu Canada cũng đã trải qua một vấn đề về văn hóa pháp lý, tuy nhiên đó là trong bối cảnh về sự chậm trễ để bị cáo được xét xử trong một thời gian hợp lý. Tòa án Tối cao Canada , với vai trò bao gồm cả "duy trì sự thống nhất chung của hệ thống pháp luật và xác định định hướng của các nguyên tắc luật án lệ và chính sách tư pháp", đã giải quyết vấn đề này bằng cách tạo ra năm 2016 một khung mới áp dụng đối với các trì hoãn. Ngoài việc làm rõ và có thể sửa đổi luật, một sự thay đổi về văn hóa pháp lý sau đó là có thể được và có thể dựa trên pháp luật. Phải có các giải pháp "nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong thực tế". Điều đó được cho rằng, "những từ ngữ là quan trọng ... Nhưng đó là một câu hỏi mở liệu việc tránh từ "có tội" trong một thông báo chính thức có thể ngăn chặn sự vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội khi hành động của tòa án có thể có có sức nặng hơn là nói". Về khía cạnh đó, Kent Roach tuyên bố, "Nhiệm vụ bảo vệ sự vô tội không nên được trao cho Nghị viện ... chúng ta may mắn rằng Tòa án Tối cao ... đã chuẩn bị để đặt các vấn đề công lý vào tay mình". Có lẽ điều tương tự có thể được đề xuất cho Việt Nam. Hành động của tòa án "các từ" ở Canada về suy đoán vô tội là gì?

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Suy đoán vô tội ở Canada: tiếp cận so sánh với Việt Nam" Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>&gt Xem thêm:  Uỷ thác thu thập chứng cứ là gì ? Nghiên cứu chứng cứ là gì ? Quy định về đánh giá chứng cứ

>&gt Xem thêm:  Bảo quản chứng cứ như thế nào ? Quy định pháp luật về bảo vệ chứng cứ

Câu hỏi thường gặp về suy đoán vô tội ở Canada

Câu hỏi: Quan điểm của Tòa án Canada về bằng chứng bào chữa là gì?

Trả lời:

Thực tế mà nói, Tòa án cũng đã thiết lập một bài kiểm tra pháp lý (thường được gọi là kiểm tra w. (D.)) áp dụng cho tất cả các nhân chứng và cho toàn bộ bằng chứng bào chữa:

Đầu tiên, nếu bạn tin vào bằng chứng bào chữa của bị cáo, rõ ràng, bạn phải tha bổng.

Thứ hai, nếu bạn không tin lời khai của bị cáo nhưng bạn có nghi ngờ hợp lý về nó, bạn phải tha bổng.

Thứ ba, ngay cả khi bạn không có nghi ngờ hợp lý về bằng chứng của bị cáo, bạn phải tự hỏi liệu, dựa trên cơ sở bằng chứng mà bạn chấp nhận, bạn có bị thuyết phục mà không còn bất cứ sự nghi ngờ gì nữa bởi bởi bằng chứng phạm tội của bị cáo hay không.

Câu hỏi: Cấu thành suy đoán vô tội ở Canada gồm những nội dung nào?

Trả lời:

Liên quan đến các cấu thành của suy đoán vô tội ở Canada, Tòa án cũng tuyên bố trong Vụ án Re B.c. Motor Vehicle Act rằng suy đoán vô tội gồm hai yếu tố thiết yếu, về nội dung và thủ tục. Suy đoán vô tội có thể được xem là một nguyên tắc nội dung của công lý cơ bản nhưng rõ ràng nó có cả khía cạnh nội dung và thủ tục. Thật vậy, bất kỳ suy đoán nào về sự kiện cũng có thể bị bác bỏ được xem như khía cạnh thủ tục, vì chủ yếu đó là sự phân bổ nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, cũng có một lợi ích về nội dung được bảo vệ bởi suy đoán vô tội, cụ thể là quyền của một bị cáo được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh ngược lại bởi Nhà nước.

Câu hỏi: Tim Lindsey và Pip Nicholson đánh giá như thế nào về suy đoán vô tội ở Việt Nam năm 2008?

Trả lời:

Tim Lindsey và Pip Nicholson đã viết vào năm 2008, "trong luật hình sự Việt Nam, không có suy đoán vô tội chỉ có suy đoán "không có tội" (a presumption of 'not guilty) theo cách đọc hiểu nghĩa đen của các quy định pháp luật liên quan".

Adblock test (Why?)



source https://luatminhkhue.vn/suy-doan-vo-toi-o-canada-tiep-can-so-sanh-voi-viet-nam.aspx

COMMENTS

Name

ALTCOIN,1,Biệt Thự,1,Bitcoin,9,BlockChain,3,Các Loại Đầu Tư Tiền Ảo,1,Cafe Thư Giãn,34,Chứng Khoán,22,Cộng Đồng Môi Giới,43,Doanh Nghiệp,50,Doanh Nhân,33,Dự Án,77,Ethereum,12,Gallery,20,ICO,1,Kiến Thức,70,Kinh Tế-Tài Chính,126,Lời Khuyên Đầu Tư,38,Marketing,4,Nhà Đẹp,782,Nhận Định,13,Phong Thủy,20,Quảng Cáo,65,Sàn Giao Dịch Tiền Ảo,12,Tiền Ảo,261,Tin BĐS,5314,Tin Tức,426,Trẻ Nhỏ,2,Tư Vấn Luật,1746,Tư Vấn Sức Khỏe - Y Tế,5120,Văn Hóa - Thiền,17,Văn Phòng-ShopHouse,4,Ví,3,Videos,19,VietNam News,2,Xu Hướng,1,
ltr
item
PhoNha: Suy đoán vô tội ở Canada: tiếp cận so sánh với Việt Nam
Suy đoán vô tội ở Canada: tiếp cận so sánh với Việt Nam
https://cdn.luatminhkhue.vn/LMK/articles/82/414375/suy-doan-vo-toi-o-canada-tiep-can-so-sanh-voi-viet-nam-414375.jpg
PhoNha
https://www.phonha.com/2021/05/suy-oan-vo-toi-o-canada-tiep-can-so.html
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/2021/05/suy-oan-vo-toi-o-canada-tiep-can-so.html
true
3453152832678417103
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem Toàn Bộ Đọc Tiếp Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS Xem Toàn Bộ Bạn Nên Xem LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy