Cụ thể hóa những thỏa thuận thương mại trong luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974?

NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giới thiệu chung về phần 301 Luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974

1.1 Nội dung cơ bản của phần 301:

Phần 301 của luật thương mại năm 1974 được đề ra nhằm thi hành các quyền của Mỹ theo những thỏa thuận thương mại, đồng thời nhằm quy trách nhiệm cho các hoạt động thương mại nước ngoài không theo cam kết. Luật này bao hàm toàn bộ những hoạt động nước ngoài liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và việc bảo vệ các quyền sở hữu chất xám. Những hoạt động không theo cam kết này có thể được tiến hành ở Mỹ, ngay chính các nước chủ quản của những hoạt động đó, hoặc Ở các nước thứ ba.

Phần 301 cho phép đại diện thương mại Mỹ tiến hành mọi hành động thích đáng, bao gồm cả việc trả đũa, nhằm xóa bỏ bất cứ một đạo luật, một chính sách hoặc một hoạt động nào của chính phủ nước ngoài bị xem là vi phạm thỏa thuận thương mại quốc tế, không hợp pháp, không hợp lý, xâm phạm và gây ảnh hưởnmg không tốt hoặc hạn chế thương mại của Mỹ. Các hoạt động không hợp pháp là những hoạt động không phù hợp với các quyền hợp pháp quốc tế. Các hoạt động không hợp lý là các hoạt đông không đúng đắn, không công bằng, mặc dù chúng có thể vẫn phù hợp với các quyền hợp pháp quốc tế. Các hoạt động xâm phạm là những hoạt động vi phạm chính sách tối huệ quốc của Mỹ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư. Năm 1988, quốc hội Mỹ đã định nghĩa thêm về "các hoạt động không hợp lý". Đó là các hoạt động vi phạm các điều khoản đúng đắn và công bằng về việc bảo vệ có hiệu quả và đầy đủ các quyền sở hữu chất xám, vi phạm những cơ hội thị trường công bằng và hợp lý bao gồm việc chấp nhận các ý định của những chính sách cạnh tranh tư nhân, đặt chỉ tiêu xuất khẩu, tiếp tục phủ nhận và khẳng định chắc chắn các quyền của người lao động.

1.2 Ý nghĩa của phần 301:

Phần 301 là một vũ khí máng tính chính trị cao trong "kho vũ khí” các chính sách thương mại của Mỹ. Nó cũng là thứ vũ khí đang được sử dụng ngày càng nhiều (xem phần phụ lục danh sách của 25 trường hợp gần đây nhất). Các hành vi chống; đối hoặc sai phạm này thường không xảy ra ở nước Mỹ. Do đó, những biện pháp trực tiếp mà Mỹ có thể tiến hành để ngăn chặn các hành động buôn bán không công bằng cũng bị giới hạn phần nào. Chính phủ Mỹ buộc phải cố gắng đàm phán những thay đổi trong luật pháp và chính sách của mọt bạn hàng để giải quyết những vấn đề mà ngành cồng nghiệp Mỹ đang phải lo lắng. Những thất bại nói chung trong việc hạn chế hành vi buôn bán không công bằng, kể cả qua các cuộc thường lượng song phướng cũng như trong quá trình giải quyết các tranh chấp ở hiệp định chung về thuế quan và thương mại, đã dẫn đến việc hội nghị năm 1988 phải củng cố phần 301 một cách đáng kể.

1.3 Các hình thức trả đũa:

Phần 301 hiện nay cho quyền được trả đũa trong trường hợp có các đạo luật phi lý và đưa ra quyền trả đũa, thẹo hướng vô điều kiện như USTR, đối với những trường hợp buôn bán bất hợp lý và phân biệt đối xử. Đặc biệt hơn là việc trả đũa sẽ được yêu cầu nếu USTR xác đính rằng việc buôn bán quốc tế đó xâm phạm, hoặc bỏ qua quyền lợi của Mỹ theo hiệp định thương mại, bất hợp lý, cấm đoán hoặc hạn chế thương mại của Mỹ. Việc trả đũa có thể làm dưới các hình thức :

(1) Đình chỉ, hủy bỏ, ngăn cản việc yêu cầu các nhượng bộ về thương mại trong việc thực hiện một hiệp định thương mại với nước vi phạm ;

(2) Đánh thuế hoặc áp dụng các hạn chế nhập khẩu khấc đối với hàng hóa, những chi phí hoặc những hạn chế đối với các dịch vụ của nước ngoài;

(3) Bồi thường thiệt hại do người phạm lỗi gây ra đối với Hoa Kỳ, hơn nữa là cho khu bị thiệt hại bởi thực tế ban đầu khồng được tốt đẹp lắm hoặc ;

(4) Sau khi việc điều tra phần 301 bắt đầu được tiến hành thì hạn chế hoặc phủ nhân tiếp cận đến việc cung cấp dịch vụ cho người phạm lỗi ở Hoa Kỳ.

>&gt Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

Sự trả đũa mang tính chất cưỡng chế cũng cổ một vài ngoại lệ. Tổ chức ÚSTR không cần thiết phải trả đũa khi Hoa Kỳ nhân được quyết định không đừợc thuận lợi, báo cáo hoặc tủỳên bố theo các điều khoản của GATT hoặc các điều khoản về giải quyết tranh chấp khác ; khi nước vi phạm thực hiện một Số cắc biên pháp được xác định cụ thể nhằm giảm nhẹ và loại bỏ vấn đề, hoặc bồi thường cho Hoa Kỳ ; khi hành động trả đũa sẽ làm tổn hại đến nền kinh tế Hoa Kỳ, hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Trong những trường hợp liên quan đến vấn đề đặt mục tiêu xuất khẩu, mà USTR không thực hiện các biện pháp trả đũa đối với các hoạt động này, thì luật ủy quyền cho USTR chỉ định ra một nhóm tư vấn để nghiên cứu ra các biện pháp để tăng tính cạnh*tranh của hàng hóa của Hoa Kỳ đã bị tổn hại do mục tiêũ hoạt đông của nước ngoài.

Năm 1988, luật thương mại cũng đã điêu chỉnh phần 301 để thêm một điều khoản đã được biết đến như một "super 301". Điêu khoản này yêu cầu USTR phải xác định những trường hựp nào là trường hợp không hợp lệ được ưu tiền, những nước nào là nước được ưu tiền. Đặt ra một thời gian thỏa thuận là 3 năm với những quốc gia này để loại bỏ, giảm bớt hoặc bồi thường cho những trường hợp như vậy. Bất kỳ nước nào không tuân thủ những thỏa thuận đã đạt được, thì USTR buộc phải tiến hành điêu tra hoạt động thương mại không đúng đắn đó và thực hiện hành động theo như luật tỉiương mại của Hoa Kỳ. Hơn nữa, năm 1988 luật thương mại yêu cầu USTR xác định các nước ngoài phủ nhận việc bảo hộ đầy đủ và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ, hoặc phủ nhận hình thức tiếp cận thị trường đến với các tổ chức của Hoa Kỳ, dựa trên việc bảo hộ tài sản trí tuệ. Những nước này được xem là những nước được líu tiền theo như một điêu khoản đựợc gọi là diều "301 đặc biệt".

2. Quá trình điều tra phần 301 Luật thương mại:

Phần 301 do cơ quan của USTR thực hiện, một tổ chức hoạt động như một phần của cơ quan điều hành của chủ tịch, có trách nhiệm điều phối và đàm phán chính sách thương mại của Hoa Kỳ. Ủy ban gồm có các tổ chức điều hành, có quạn tâm tới chính sách thương mại, sẽ chỉ đạo hoạt động của USTR trong việc điều tra phần 301. Khi kết thúc việc nghiên cứu thì USTR quyết định có nên tiến hành hành động trừng phạt đối với bạn hàng thương mại hay không. Ví dụ : hình thức điều tra phần 301 được thực hiện rất năng động và về. mặt đó thì luật này có sự khác biệt rất lớn so với các luật về chống bán phá giá và luật thuế bù trừ. Một sự phân biệt nữa so với luật về chống bán phá giá yà luật thuế bù trừ là ở đây không có một điều khoản nào cho việc xem xét của tòa án đối với những quyết định được thực hiên trong những trường hợp như ở phần 301.

Việc điều tra phần 301 có thể do USTR thực hiện hoặc khi có những yêu cầu. Yêu cầu phải thừa nhận là hành động của chính phủ ngoại quốc cả trong hai trường hợp là :

(1) Vi phạm thỏa thuận thương mại đã ký với Hoa Kỳ hoặc

(2) Không thể biện bạch được, không hợp lý, hoặc có tính chất phàn biệt đối xử, là những gánh nậng và hạn chế hoạt động thương mại đối với Hoa Kỳ. USTR có 45 ngày để xác định xem lời yêu cầu có đay đủ thông tin không và dựa vào đó để tiến hành nghiên cứu chính thức.

Nếu như USTR quyết định không tiến hành điều tra thì người thỉnh cầu cũng phải được thông báo như vậy, và thông báo giải thích về quyết định này được đăng trên sổ đăng ký Liên bang. Nếu USTR tiến hành điều tra thì tóm tắt lời thỉnh cầu cũng phải được công bố trên sổ đăng ký Liên bang và một cơ hội đã chuyển tới cho những bên quan tâm để nêu quan điểm của họ về trường hợp đó. Thủ tục này cũng có thể kèm theo sự chú ý của công chúng.

Vào ngày mà hoạt động điều tra được tiến hành, thì những thủ tục của phần 301 yêu cầu USTR thực hiện hội đàm tay đối với chính phủ nước ngoài về những vấn đề liên quan trong trường hợp đó. USTR có thể làm châm lại việc thực, hiện yêu cầu hội đàm, trao đổi ý kiến tối đa là 90 ngày nếu cần thiết để cải tiến hoặc kiểm tra lời thỉnh cầu như là một cơ sở đây đủ cho việc hội đàm trao đổi, tham khảo ý kiến. Nếu USTR chậm trễ trong việc thực hiện yêu cầu hội đàm trao đổi thì thông báo về sự chậm trễ này cũng phải được đăng trên Sổ đăng ký Liên bang và phải báo cáo cho đại hội về lý do của sự chậm trễ này. Số lần hội đàm trao đổi ý kiến có thể được tổ chức như thường lệ nhưng không được quá 150 ngày.

Cuối thời kỳ hội đàm trao đổi, nếu áp dụng, thì Hoa Kỳ có thể yêu cầu những thủ tục giải quyết tranh chấp được bắt đầu theo những quy định về giải quyết tranh chấp của GATT. USTR được phép ra quyết định trên thực tế theo sự điều tra trong vòng 18 tháng, hoặc 30 ngày sau khi việc thực hiên giải quyết tranh chấp được thực hiện đầy đủ trong các trường hợp liên quan đến thỏa thuận thương mại. Nếu việc thực hiện giải quyết tranh chấp không hoàn tất trong khoảng thời gian tối thiểu nêu ra trong thỏa thuận thương mại được áp dụng thì USTR phải giải thích lý do cho đại hội.

>&gt Xem thêm:  Một số thủ tục tố tụng trong việc giải quyết các vụ án trong pháp luật Hoa Kỳ ?

Trong trường hợp không có liên quan đến thỏa thuận thương mại, thì nói chung USTR phải có quyết định sau 12 tháng kể từ khi bắt đầu tiến hành điều tra. Tuy nhiên, thời hạn điều tra việc phủ nhận sự bảo hộ. về quyền sở hứu trí tuệ là 6 tháng kể từ ngày điều tra được bắt đâu thực hiện, hoặc 9 tháng đối với trường hợp phức tạp như là bên nước ngoài đang có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện những luật đảm bảo quyền sở hữu về trí tuệ một cách đẫy đủ và hiệu quả, hoặc những nước đang tiến hành những biện pháp ép buộc để cung cấp những bảo hộ về quyên sở hữu trí tuệ.

USTR phải thực hiện những hành động sẽ được tiến hành như là kết quả của việc điều tra phần 301 trong vòng 30 ngày kể từ ngày ra quyết định của tổ chức. USTR có thể chậm trễ trong việc thực hiện này tối đa là 60 ngày nếu phía Hoa Kỳ yêu cầu như vậy, hoặc nếu USTR xác định là việc chậm trễ sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết một cách thỏa đáng. Những hành động trừng phạt lại sự phủ nhận quyền sở hữu trí tuệ có thể chậm tối đa là 90 ngày.

Nếu sự trả đũa hoặc những hành động khác do chính phủ Mỹ thực hiện như là kết quả của một quá trình điều tra theo phần 301, Luật quy định rằng những hành động đó sẽ mặc nhiên mãn hạn vào thời điểm cuối của thời kỳ 4 năm, nếu như nhà sản xuất trong nước yêu cầu tiếp tục hành động trả đũa. Nếu nhà sản xuất yêu cầu sự trả đũa đó tiếp tục, USTR phải điều tra tính hiệu quả của sự trả đũa khi thực hiện loại trừ thực tiễn buôn bán mà các khiếu nại ban đầu đã đưa rà và tác động của nó lên nền kinh tế Mỹ, bao gồm cả những người tiêu dùng. Ngoài ra, USTR có thể điều chỉnh sửa đổi hoặc kết thúc những hành động được thực hiện như là kết quả điều tra của phần 301 vào bất kỳ thời điểm nào nếu USTR xác định rằng hành động không công bằng đó không còn ảnh hưởng xấu hay hạn chế thương mại của Hoa Kỳ, hoặc hành động trả đũa hay trừng phạt đang được áp dụng không còn phù hợp nữa.

Luật này cũng đòi hỏi USTR phải giám sát các biện pháp hay hành động được thực hiện như là kết quả của việc điều tra theo phàn 301. Nếu kết quả của các biện pháp và hành động trên mà không thỏa đáng, USTR phải tham khảo và làm việc với người khởi kiện của Mỹ và các đại diện của nền công nghiệp trong nước cũng như những quan điểm về cách phán xử của những cá nhân có liên quan.Sau đó USTR sẽ quyết định hành động hay biện pháp tiếp theo nào sẽ được áp dụng theo như phần 301.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>&gt Xem thêm:  Những phân nhóm chính của Luật dân sự ở Hoa Kỳ ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hiểu USTR nghĩa là gì?

Trả lời:

USTR là viết tắt của Đại diện thương mại Hoa Kỳ, là cơ quan chính phủ Hoa Kỳ chịu trách nhiệm xây dựng và đề xuất chính sách thương mại của Hoa Kỳ cho Tổng thống Hoa Kỳ, tiến hành các cuộc đàm phán thương mại ở các cấp song phương và đa phương, và điều phối chính sách thương mại trong chính phủ thông qua.

Câu hỏi: Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) được thành lập năm bao nhiêu?

Trả lời:

Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) được thành lập năm 1962.

Câu hỏi: Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) có bao nhiêu nhân viên và trụ sở ở đâu?

Trả lời:

Với hơn 200 nhân viên, USTR có văn phòng tại Geneva, Thụy Sĩ và Brussels, Bỉ. 

Adblock test (Why?)



source https://luatminhkhue.vn/cu-the-hoa-nhung-thoa-thuan-thuong-mai-trong-luat-thuong-mai-hoa-ky-nam-1974.aspx

COMMENTS

Name

ALTCOIN,1,Biệt Thự,1,Bitcoin,9,BlockChain,3,Các Loại Đầu Tư Tiền Ảo,1,Cafe Thư Giãn,34,Chứng Khoán,22,Cộng Đồng Môi Giới,43,Doanh Nghiệp,50,Doanh Nhân,33,Dự Án,77,Ethereum,12,Gallery,20,ICO,1,Kiến Thức,70,Kinh Tế-Tài Chính,126,Lời Khuyên Đầu Tư,38,Marketing,4,Nhà Đẹp,860,Nhận Định,13,Phong Thủy,20,Quảng Cáo,65,Sàn Giao Dịch Tiền Ảo,12,Tiền Ảo,261,Tin BĐS,5512,Tin Tức,426,Trẻ Nhỏ,2,Tư Vấn Luật,1918,Tư Vấn Sức Khỏe - Y Tế,5526,Văn Hóa - Thiền,17,Văn Phòng-ShopHouse,4,Ví,3,Videos,19,VietNam News,2,Xu Hướng,1,
ltr
item
PhoNha: Cụ thể hóa những thỏa thuận thương mại trong luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974?
Cụ thể hóa những thỏa thuận thương mại trong luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974?
https://cdn.luatminhkhue.vn/LMK/articles/83/419513/cu-the-hoa-nhung-thoa-thuan-thuong-mai-trong-luat-thuong-mai-hoa-ky-nam-1974-419513.jpg
PhoNha
https://www.phonha.com/2021/06/cu-hoa-nhung-thoa-thuan-thuong-mai.html
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/
https://www.phonha.com/2021/06/cu-hoa-nhung-thoa-thuan-thuong-mai.html
true
3453152832678417103
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts Xem Toàn Bộ Đọc Tiếp Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS Xem Toàn Bộ Bạn Nên Xem LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy